Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
Nguyễn Thị Thắng
Luận án Thực trạng và yếu tố ảnh hưởng tới sự khác biệt trong sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ở một số tỉnh thuộc các vùng kinh tế xã hội Việt Nam năm 2015
Chuyên ngành: Y tế - Sức khoẻ
Luận án
2017
1Đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Đăng nhập ngayMục lục
1. Lời nói đầu .......................... 3
2. Chương 1: Giới thiệu ............ 7
3. Chương 2: Nội dung nghiên cứu .. 28
4. Kết luận ................................ 70
Thực trạng và yếu tố ảnh hưởng tới sự khác biệt trong sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ở một số tỉnh thuộc các vùng kinh tế xã hội Việt Nam năm 2015
Y tế công cộng Mã số: 62 72 03 01
Luận án "Thực trạng và yếu tố ảnh hưởng tới sự khác biệt trong sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ở một số tỉnh thuộc các vùng kinh tế xã hội Việt Nam năm 2015" chuyên ngành Y tế công cộng, mã số 62 72 03 01, do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thắng thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS. Nguyễn Trần Hiển và TS. Trần Thị Mai Oanh tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, đã đưa ra những kết luận mới quan trọng.
Nghiên cứu cung cấp bằng chứng cập nhật và đại diện về tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) khi bị ốm/bệnh trong vòng 4 tuần tại 6 tỉnh thuộc các vùng kinh tế xã hội khác nhau của Việt Nam vào năm 2015, bao gồm Hà Nội, Điện Biên, Bình Định, Đắk Lắk, Đồng Nai và Đồng Tháp. Các phát hiện cho thấy xu hướng thay đổi tích cực trong mô hình sử dụng dịch vụ, với việc tăng cường sử dụng dịch vụ KCB chuyên nghiệp và giảm tỷ lệ tự điều trị. Đây là cơ sở khoa học để xây dựng các can thiệp và điều chỉnh chính sách nhằm giảm bất bình đẳng, tăng khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế cho người dân trên cả nước.
Cụ thể, tỷ lệ ốm trong 4 tuần của người dân là 24,4%. Trong số này, tỷ lệ KCB ngoại trú chiếm cao nhất (45,7%), KCB nội trú là 5,2% và tự điều trị là 41,1%. Không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ KCB ngoại trú, nội trú và tự điều trị giữa khu vực nông thôn và thành thị ở 6 tỉnh nghiên cứu. Tuy nhiên, có sự khác biệt rõ rệt giữa các tỉnh, ví dụ Đồng Nai và Đồng Tháp có tỷ lệ KCB ngoại trú cao nhất (61,8% và 60,4%), trong khi Hà Nội có tỷ lệ tự điều trị cao nhất (49,9%). Về địa điểm KCB ngoại trú, cơ sở y tế tư nhân được lựa chọn nhiều nhất (33,1%), tiếp theo là Trạm y tế xã (20,3%), Bệnh viện huyện (18,5%) và Bệnh viện tỉnh (16%). Người dân nông thôn chủ yếu KCB ngoại trú tại Trạm y tế xã (25,8%), trong khi ở thành thị, tỷ lệ KCB tại Bệnh viện tỉnh và Trung ương cao gấp đôi (34,5%) so với nông thôn (17,4%). Đối với KCB nội trú, người bệnh ở nông thôn chủ yếu điều trị tại bệnh viện huyện (42,4%), còn ở thành thị là bệnh viện tỉnh (42,3%) và trung ương (22,3%).
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ KCB. Mức độ ốm vừa/nặng làm tăng KCB ngoại trú, nội trú và giảm tự điều trị ở cả 6 tỉnh. Có bảo hiểm y tế làm tăng KCB ngoại trú và giảm tự điều trị ở 5 tỉnh (trừ Hà Nội). Mức sống khá/giàu và là người dân tộc làm tăng KCB ngoại trú, nội trú và giảm tự điều trị ở Hà Nội. Trình độ học vấn từ THCS/THPT trở lên làm tăng KCB ngoại trú và giảm tự điều trị ở Hà Nội; trình độ CĐ-ĐH làm tăng KCB ngoại trú ở Bình Định và giảm tự điều trị ở Đồng Nai. Nhóm tuổi từ 19-49/từ 60+ làm tăng KCB nội trú ở Hà Nội. Sống ở nông thôn làm giảm tự điều trị ở Điện Biên và Đắk Lắk. Yếu tố vùng, miền giải thích 12,87% sự khác biệt về tỷ lệ sử dụng dịch vụ KCB ngoại trú, với số lượng trạm y tế xã và tỷ suất chết thô là hai yếu tố làm tăng khả năng KCB ngoại trú (p<0,05).
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên