info@luanan.net.vn
Luận án PDF

Luận án Thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số loài cá kinh tế của hai họ cá bống Gobiidae và Eleotridae phân bố ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre

Năm2016
Lĩnh vựcNông - Lâm - Ngư
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh
Xem trước tài liệu
Đang tải...

Đang tải tài liệu...

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MỘT SỐ LOÀI CÁ KINH TẾ CỦA HAI HỌ CÁ BỐNG GOBIIDAE VÀ ELEOTRIDAE PHÂN BỐ Ở VÙNG VEN BIỂN TỈNH BẾN TRE

Ngành:

Nuôi trồng Thủy sản

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án nghiên cứu về thành phần loài và đặc điểm sinh học của các loài cá bống thuộc họ Gobiidae và Eleotridae phân bố ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre. Đây là nhóm cá phong phú ở Đồng bằng Sông Cửu Long, có giá trị kinh tế và tiềm năng phát triển nuôi. Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là đánh giá nguồn lợi nhóm cá bống, xác định sự đa dạng thành phần loài và đặc điểm sinh học của các loài cá kinh tế nhằm làm cơ sở cho việc quản lý nguồn lợi và phát triển nuôi bền vững.

Các mục tiêu cụ thể bao gồm xác định thành phần loài cá bống, cùng với đặc điểm sinh học dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản của hai loài cá bống cát (Glossogobius aureus) và cá bống sao (Boleophthalmus boddarti). Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4/2012 đến tháng 3/2014 tại các vùng ven biển Bến Tre, kết hợp điều tra thực địa và phân tích mẫu tại phòng thí nghiệm.

Kết quả cho thấy, luận án đã xác định được 35 loài cá thuộc 24 giống, trong đó có 28 loài thuộc họ Gobiidae (80%) và 7 loài thuộc họ Eleotridae (20%). Trong số này, 13 loài được ghi nhận là có giá trị kinh tế và đang được khai thác, đặc biệt cá bống kèo (P. elongatus) và cá bống tượng (O. marmorata) đã được nuôi. Cá bống cát và cá bống sao được đánh giá có tiềm năng phát triển thành đối tượng nuôi trong tương lai.

Về đặc điểm sinh học, cá bống cát là loài cá dữ, thức ăn chủ yếu là giáp xác và cá nhỏ (86,8%), trong khi cá bống sao là loài ăn thực vật, chủ yếu là tảo khuê (87,84%). Cá bống cát có tốc độ tăng trưởng chiều dài nhanh hơn cá bống sao, với L∞ = 300 mm và K = 0,77/năm, so với L∞ = 160 mm và K = 0,55/năm ở cá bống sao. Tuy nhiên, cá bống sao có tuổi thọ cao hơn (5,5 năm so với 3,9 năm của cá bống cát). Cả hai loài đều có tỉ lệ đực:cái gần bằng 1:1. Cá bống cát sinh sản tập trung từ tháng 9 đến tháng 12 (đỉnh điểm tháng 11, 12), còn cá bống sao sinh sản quanh năm và tập trung cao vào tháng 10, 11, cả hai đều sinh sản tập trung vào mùa mưa. Sức sinh sản tuyệt đối của cá bống cát (69.006 ± 25.616 trứng/cá cái) cao hơn cá bống sao (18.224 ± 2.940 trứng/cá cái). Chiều dài thành thục đầu tiên (Lm) của hai loài dao động từ 120-142 mm.

Luận án kết luận rằng cá bống cát và cá bống sao có tiềm năng lớn để phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững ở vùng ven biển Bến Tre và ĐBSCL. Đồng thời, đề xuất bảo tồn các loài ít gặp, khuyến cáo kích thước khai thác tối thiểu và tiếp tục nghiên cứu khả năng nuôi thương phẩm cũng như sinh sản nhân tạo cho hai loài cá bống cát và cá bống sao.

Tài liệu liên quan