Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
CÁC PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ BIỂU THỊ QUYỀN LỰC TRONG GIAO TIẾP HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT
Lí luận ngôn ngữ
Luận án "CÁC PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ BIỂU THỊ QUYỀN LỰC TRONG GIAO TIẾP HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT" cung cấp một bức tranh toàn cảnh về các phương tiện ngôn ngữ biểu thị quyền lực trong giao tiếp pháp đình, từ cấp độ từ vựng đến phát ngôn, và từ bình diện tổng thể đến cụ thể của tương tác. Nghiên cứu khẳng định khung phân tích hiện tượng quyền lực và ngôn ngữ phù hợp với loại hình giao tiếp thể chế, cần được xem xét trong khuôn khổ tương tác được đảm bảo về mặt pháp lí.
Luận án nhận định giao tiếp pháp đình thuộc giao tiếp hành chính, mang đặc điểm đa thoại, quan hệ vai bất bình đẳng, phi tương hỗ và đối lập về mục đích. Các phương tiện ngôn ngữ như phương tiện từ ngữ xưng hô (PTTNXH), từ ngữ biểu thị tình thái và hành động ngôn từ (HĐNT) được xem là công cụ thực thi quyền lực tư pháp. Trong tương tác pháp đình tiếng Việt, một trình tự rõ ràng tuân theo luật định về cấu trúc được nhận diện, trong đó quan hệ quyền lực được thừa nhận khi tương tác đảm bảo tính pháp lí. Chủ tọa Hội đồng xét xử (HĐXX) nắm giữ quyền lực toàn năng, thể hiện qua số lượng lượt lời nhiều nhất, khả năng chủ động tạo lập phát ngôn và áp đặt quyền nói. Đại diện Viện kiểm sát (VKS) và luật sư cũng có quyền lực tư pháp nhất định thông qua các phát ngôn dài, nội dung phức tạp, trong khi HĐXX kiểm soát toàn bộ chủ đề.
Nghiên cứu phân loại ba nhóm cấu trúc cặp trao đáp gắn với đặc điểm quyền lực khác nhau: quyền lực một chiều, trực tiếp, công khai; quyền lực tạo áp lực buộc đối tác nói ra sự thật rõ ràng, minh bạch; và quyền lực tư pháp gắn với chức năng giáo dục pháp luật. Đối với PTTNXH, HĐXX chủ yếu dùng danh xưng pháp luật để nhấn mạnh quyền lực thể chế, còn VKS và luật sư dùng đại từ nhân xưng để thể hiện lập trường cá nhân. PTTNXH hô gọi của HĐXX có độ mở nhất định, phản ánh mức độ "gia giảm" áp lực. Bị cáo chủ yếu dùng danh xưng pháp luật để tự xưng, cho thấy tác động mạnh của quyền lực thể chế.
Luận án cũng chỉ ra rằng bên cạnh quyền lực thể chế, quyền lực quan điểm và lập trường cũng hình thành thông qua điều chỉnh từ vựng và lựa chọn từ ngữ biểu cảm. Trong số 8104 lượt HĐNT, các phạm trù điều khiển và tái hiện nổi trội trong phát ngôn của NVGT quyền lực cao. Số lượng và kiểu loại HĐNT tỷ lệ thuận với mức độ quyền lực của nhân vật. Các HĐNT hỏi của HĐXX được phân loại theo chức năng ngữ dụng và được xếp trên thang độ quyền lực tăng tiến, từ yêu cầu cung cấp thông tin đến xác nhận thông tin.
Luận án được chia thành bốn chương, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục những công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục:
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên