Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo trực tràng qua đường hậu môn điều trị ung thư trực tràng
Luận án tập trung nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo trực tràng qua đường hậu môn (TaTME) trong điều trị ung thư trực tràng, đặc biệt là ung thư trực tràng 1/3 dưới. Bối cảnh nghiên cứu chỉ ra rằng phẫu thuật điều trị ung thư trực tràng đã có nhiều tiến bộ từ đầu thế kỷ 20, với kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (TME) do Heald đề xuất năm 1982 trở thành tiêu chuẩn vàng. Phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt TME có nhiều ưu điểm nhưng vẫn còn thách thức lớn đối với ung thư trực tràng 1/3 dưới, đặc biệt ở bệnh nhân có khung chậu hẹp, béo phì, khối u lớn hoặc đã hóa - xạ trị trước mổ, dẫn đến tỷ lệ chuyển mổ mở cao và khó đạt được chất lượng mạc treo trực tràng nguyên vẹn cùng diện cắt an toàn về ung thư học.
Để khắc phục những hạn chế này, phương pháp TaTME được Sylla đề xuất năm 2010 đã chứng minh hiệu quả vượt trội trong việc nâng cao tỷ lệ chất lượng mạc treo trực tràng cắt nguyên vẹn (80-90%) và giảm tỷ lệ chuyển mổ mở (2,8-3%), đồng thời tăng tỷ lệ bảo tồn cơ thắt đối với ung thư trực tràng thấp.
Đề tài luận án được thực hiện nhằm nhận xét đặc điểm kỹ thuật và đánh giá kết quả phẫu thuật TaTME trong điều trị ung thư biểu mô tuyến trực tràng. Luận án đã đóng góp vào việc khẳng định tính khả thi, an toàn và hiệu quả của TaTME tại Việt Nam, một phương pháp còn mới. Nghiên cứu cũng chỉ ra khả năng bảo tồn tốt các chức năng bàng quang, tình dục và cơ thắt, giúp giảm tỷ lệ bệnh nhân phải mang hậu môn nhân tạo và tỷ lệ phẫu thuật Miles. Kỹ thuật phẫu tích từ dưới lên qua đường hậu môn giúp thu được mẫu mạc treo trực tràng chất lượng cao, đảm bảo các diện cắt an toàn về ung thư học, từ đó giảm tỷ lệ tái phát tại chỗ và tăng tỷ lệ sống thêm toàn bộ cũng như sống thêm không bệnh.
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân ung thư trực tràng 1/3 giữa và 1/3 dưới được phẫu thuật TaTME tại Bệnh viện TWQĐ 108 từ 7/2017 đến 8/2019. Phương pháp nghiên cứu là can thiệp lâm sàng, tiến cứu và không đối chứng, tập trung đánh giá các đặc điểm kỹ thuật, kết quả trong mổ, kết quả gần và kết quả xa (bao gồm chức năng và ung thư học).