info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật đặt ống dẫn lưu tiền phòng điều trị glôcôm

Năm2021
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHẪU THUẬT ĐẶT ỐNG DẪN LƯU TIỀN PHÒNG MINI-EXPRESS ĐIỀU TRỊ GLÔCÔM

Ngành:

Nhãn khoa

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án này tập trung nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật đặt ống dẫn lưu tiền phòng mini-express trong điều trị glôcôm, một bệnh lý mạn tính gây mù lòa vĩnh viễn với thách thức điều trị nhãn áp khó kiểm soát và tỷ lệ biến chứng cao từ các phương pháp truyền thống như cắt bè. Phẫu thuật cắt bè củng - giác mạc, dù phổ biến, có tỷ lệ thất bại lên tới 30% sau 5 năm. Ống dẫn lưu mini-express, ra đời năm 2002, được giới thiệu như một giải pháp mới với ưu điểm nhỏ gọn, kỹ thuật phẫu thuật đơn giản, ít biến chứng, và hiệu quả hạ nhãn áp tốt, đặc biệt cho glôcôm góc mở nguyên phát hoặc thứ phát nhãn áp khó điều chỉnh.

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Mắt Trung ương từ tháng 11/2013 đến 12/2019 trên 45 mắt của 41 bệnh nhân glôcôm góc mở, bao gồm cả những trường hợp chưa từng phẫu thuật hoặc đã thất bại với phẫu thuật cắt bè. Với thời gian theo dõi 24 tháng, nghiên cứu đánh giá kết quả phẫu thuật và phân tích các yếu tố liên quan đến thành công.

Kết quả cho thấy phẫu thuật mini-express là một thủ thuật tương đối đơn giản, đạt tỷ lệ thành công cao và ít biến chứng. Tại thời điểm theo dõi cuối cùng, 85,4% số mắt có thị lực tăng hoặc giữ nguyên. Về nhãn áp, tỷ lệ điều chỉnh tuyệt đối là 66,7%, điều chỉnh tương đối 24,4%, và chỉ 8,9% thất bại, nâng tổng tỷ lệ thành công chung lên 91,1%. Lượng thuốc tra hạ nhãn áp trung bình giảm đáng kể từ 3,67 ± 0,60 trước phẫu thuật xuống còn 0,37 ± 0,66 sau phẫu thuật. Sẹo bọng sau phẫu thuật được đánh giá tốt trên lâm sàng ở 64,4% số mắt, và trên siêu âm UBM cho thấy 66,7% sẹo bọng cao ≥ 2mm, 68,9% sẹo phản âm yếu, cùng với 80% sẹo có đường lưu thông thủy dịch dưới vạt củng mạc. Tình trạng ống dẫn lưu tốt được ghi nhận ở 71,1% số mắt.

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật bao gồm tuổi bệnh nhân (người trẻ hơn có tỷ lệ tăng sinh xơ cao hơn), tiền sử phẫu thuật cắt bè trước đó, và mức nhãn áp trước phẫu thuật cao. Các biến chứng như bong hắc mạc (13,3%), nhãn áp thấp (17,8%), xẹp tiền phòng (11,1%) và lệch trục ống (4,4%) thường nhẹ và đáp ứng tốt với điều trị nội khoa. Nghiên cứu khuyến nghị tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về phương pháp này trên các hình thái glôcôm khác, thời gian theo dõi dài hơn, và so sánh với các phương pháp phẫu thuật truyền thống cũng như các loại ống dẫn lưu khác.

Tài liệu liên quan