Không được đề cập trong tài liệu.
Không được đề cập trong tài liệu.
Tài liệu trình bày tổng quan về phẫu thuật cắt gan, một can thiệp phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro do đặc điểm giải phẫu và sinh lý của gan. Vấn đề chính được nhấn mạnh là kiểm soát mất máu trong và sau mổ, với việc giới thiệu các phương pháp cắt gan theo giải phẫu của Lortat-Jacob và Tôn Thất Tùng. Kỹ thuật kẹp cuống gan toàn bộ Pringle (1908) được nêu bật như một giải pháp đơn giản nhưng có nhược điểm gây tổn thương thiếu máu toàn bộ gan và ứ máu ruột. Từ đó, kỹ thuật kiểm soát chọn lọc cuống Glisson (KSCL cuống gan) được phát triển, không chỉ giúp giảm mất máu mà còn hỗ trợ nhận diện đường cắt gan chính xác dựa trên ranh giới thiếu máu. Các nghiên cứu quốc tế của Takenaka, Malassagne, Wu, Tanaka, Fu, Ji đã chứng minh hiệu quả của phương pháp này. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Trịnh Hồng Sơn và Nguyễn Cường Thịnh cũng bước đầu đề cập đến KSCL cuống gan.
Nội dung tài liệu đi sâu vào phân chia giải phẫu gan (Healey và Schroy, 8 hạ phân thùy), giải phẫu ngoại khoa cuống gan (động mạch gan riêng, tĩnh mạch cửa, đường mật) với các biến đổi cần lưu ý. Các phương pháp cắt gan được phân loại thành không theo giải phẫu và theo giải phẫu, cùng với định nghĩa cắt gan lớn và cắt gan nhỏ. Tài liệu cũng liệt kê các yếu tố quan trọng khi chỉ định cắt gan, bao gồm đánh giá chức năng gan còn lại (thang điểm Child-Pugh, MELD) và thể tích gan còn lại. Các tai biến trong mổ (tổn thương tĩnh mạch gan, tĩnh mạch chủ dưới, đường mật, động mạch gan, tĩnh mạch cửa) và biến chứng sau mổ (chảy máu, rò mật, u nang mật, suy gan) cũng được mô tả chi tiết.
Phần nghiên cứu thực nghiệm mô tả một nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 9/2011 đến tháng 5/2014, với cỡ mẫu 62 bệnh nhân có u gan nguyên phát hoặc thứ phát. Nghiên cứu tập trung vào kỹ thuật cặp kiểm soát chọn lọc cuống Glisson gan phải hoặc trái (enbloc hoặc từng thành phần) và áp dụng phương pháp cắt gan Tôn Thất Tùng kết hợp KSCL cuống gan. Quy trình phẫu thuật được mô tả qua các bước: mở bụng, thăm dò, giải phóng gan, cặp kiểm soát chọn lọc cuống Glisson, cắt nhu mô gan, kiểm tra cầm máu và dẫn lưu. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sớm (huyết học, sinh hóa) và xa (tỷ lệ tử vong, tái phát, thời gian sống thêm) cũng được nêu. Kết quả ban đầu cho thấy tỷ lệ cặp kiểm soát cuống Glisson gan P hoặc T liên tục là 37,5%, cách quãng là 45,8%. Phân loại cắt gan lớn chiếm 40,3% (cắt gan P 22,2%), cắt gan nhỏ chiếm 59,7% (cắt PT sau 19,4%). Các tai biến trong mổ và biến chứng sau mổ cũng được ghi nhận.