Không được cung cấp rõ ràng trong văn bản.
Kỹ thuật Xây dựng (chuyên ngành Địa kỹ thuật/Nền móng).
Đề tài nghiên cứu giải pháp công nghệ sàn giảm tải sử dụng kết hợp cọc và cốt địa kỹ thuật (ĐKT) cường độ cao để xử lý nền đất yếu trong xây dựng nền đắp. Mở đầu chỉ ra rằng, mặc dù giải pháp này được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trên thế giới với các tiêu chuẩn thiết kế (Anh, Đức), các phương pháp tính toán hiện hành dựa trên các giả thiết đơn giản hóa đã dẫn đến sự khác biệt lớn về kết quả. Đây là động lực hình thành đề tài.
Chương 1 cung cấp tổng quan về phương pháp sử dụng cọc kết hợp cốt ĐKT trong xây dựng nền đắp trên đất yếu, bao gồm định nghĩa đất yếu và các giải pháp xử lý. Chương này cũng điểm lại các nghiên cứu và phương pháp tính tiêu biểu từ thực nghiệm (Zaeske, Hewlett và Randolph, Low) đến tiêu chuẩn (BS 8006, EBGEO 2004) và phương pháp số. Đề tài nhấn mạnh sự thiếu khảo sát tổng thể về ảnh hưởng của đặc tính vật liệu và kích thước hình học đến phân bố lực và độ lún.
Chương 2 tập trung xác định tải trọng truyền xuống cọc và chiều cao nền đắp tối thiểu. Tác giả sử dụng phương pháp số (Plaxis 3D) và các phương pháp giải tích từ tiêu chuẩn Anh (BS 8006:1-2010) và Đức (EBGEO 2004) để phân tích, so sánh với kết quả thực nghiệm của Zaeske (2001). Kết quả cho thấy phương pháp số và EBGEO 2004 có độ tin cậy cao, gần sát với thực nghiệm hơn so với tiêu chuẩn Anh. Đề tài cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả truyền tải (Ef) và đề xuất các công thức cho trường hợp 1, 2 hoặc 3 lớp cốt ĐKT, đồng thời xác định chiều cao đất đắp tối thiểu.
Chương 3 nghiên cứu lực kéo trong cốt ĐKT. Phân tích chỉ ra rằng lực kéo theo hướng song song với trục tim đường nhỏ hơn đáng kể (1.6 đến 2.3 lần) so với hướng vuông góc, đề xuất khả năng bố trí cốt có cường độ chịu kéo khác nhau để tiết kiệm chi phí. Nghiên cứu cũng phân tích sự phân bố lực kéo trên cốt ĐKT nhiều lớp (1 đến 3 lớp). Kết quả cho thấy lực kéo lớn nhất ở lớp cốt ngay trên đỉnh cọc và giảm dần ở các lớp tiếp theo (lớp thứ hai khoảng 70%, lớp thứ ba khoảng 50% so với lớp đầu tiên), không phụ thuộc vào vật liệu lớp đệm. Từ đó, NCS đề xuất công thức tính cường độ chịu kéo danh định cho trường hợp bố trí nhiều lớp cốt.