info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu thực trạng nhiễm giun tròn đường tiêu hóa, một số đặc điểm sinh học, bệnh học do giun dạ dày gây ra ở lợn, biện pháp phòng trị tại ba tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

Năm2016
Lĩnh vựcNông - Lâm - Ngư
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHIỄM GIUN TRÒN ĐƯỜNG TIÊU HÓA, MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, BỆNH HỌC DO GIUN DẠ DÀY GÂY RA Ở LỢN, BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ TẠI BA TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM

Ngành:

KÝ SINH TRÙNG VÀ VI SINH VẬT HỌC THÚ Y (MÃ SỐ: 62 64 01 04)

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tiến sĩ này nghiên cứu thực trạng nhiễm giun tròn đường tiêu hóa, các đặc điểm sinh học và bệnh học do giun dạ dày gây ra ở lợn, cùng với các biện pháp phòng trị tại ba tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam (Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên) từ năm 2010 đến 2014. Mục tiêu là xác định tỷ lệ, cơ cấu nhiễm, tác hại của giun tròn và đánh giá hiệu quả các biện pháp can thiệp.

Nghiên cứu đã xác định được 5 loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn: Ascaris suum, Trichuris suis, Strongyloides ransomi, Oesophagostomum dentatum, và Gnathostoma doloresi, trong đó G. doloresi là loài mới được phát hiện tại vùng nghiên cứu. Tỷ lệ nhiễm chung giun tròn đường tiêu hóa ở lợn khá cao, đạt 71,67% qua mổ khám và 70,52% qua xét nghiệm phân. Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm biến động theo địa hình (cao nhất ở vùng núi cao), mùa vụ (cao hơn vào vụ Xuân-Hè), phương thức nuôi (cao nhất ở lợn thả rông) và tình trạng vệ sinh (cao nhất ở điều kiện vệ sinh kém). Lợn nhiễm chủ yếu ở cường độ nhẹ và trung bình.

Đối với G. doloresi, trứng phát triển thuận lợi trong môi trường nước cất ở pH 7 và nhiệt độ 13,95-32,85°C, với tỷ lệ nở 88-95%. Trứng bị phá hủy trong môi trường pH 5 và các dung dịch hóa chất NaOH, Ca(OH)2 nồng độ 5-10%. Bệnh tích đại thể đặc trưng ở dạ dày lợn do G. doloresi là niêm mạc bị thủng, viêm, tụ huyết, xuất huyết và loét sâu. Bệnh tích vi thể cho thấy biểu mô dạ dày tổn thương nặng, bị phá hủy hoàn toàn, cùng với hạ niêm mạc xung huyết, thấm nước phù và thâm nhiễm bạch cầu ái toan. Các chỉ tiêu huyết học cho thấy sự thay đổi công thức bạch cầu ở lợn nhiễm, với bạch cầu trung tính giảm và bạch cầu ái toan tăng.

Về phòng trị, các thuốc ivermectin, levamisole và mebendazole đều cho hiệu lực tẩy giun G. doloresi cao, đạt từ 92,23% đến 100%. Áp dụng các biện pháp phòng trị tổng hợp (tẩy giun định kỳ, vệ sinh chuồng trại, quản lý nuôi nhốt, xử lý phân bằng phương pháp ủ hiếu khí) đã giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm G. doloresi từ 20,91% xuống 1,74%. Đặc biệt, trứng G. doloresi bị tiêu diệt hiệu quả trong đống phân ủ hiếu khí sau 3-8 ngày ở nhiệt độ cao (trung bình 60,02°C). Đề tài cung cấp thông tin khoa học quan trọng và đề xuất các biện pháp phòng trị hiệu quả nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi lợn tại các tỉnh miền núi phía Bắc.

Tài liệu liên quan