Không được cung cấp rõ ràng trong văn bản.
Ký sinh trùng và Vi sinh vật học Thú y (Mã số: 9.64.01.04)
Luận án tiến sĩ Thú y này trình bày kết quả nghiên cứu về thực trạng nhiễm giun, sán đường tiêu hóa ở dê tại tỉnh Bắc Giang, một khu vực trung du miền núi. Mục tiêu chính của đề tài là cung cấp các thông tin khoa học về tình hình bệnh ký sinh trùng này.
Nghiên cứu được tiến hành trên đàn dê nuôi tại 5 huyện thuộc tỉnh Bắc Giang, với các mẫu phân tươi của dê là đối tượng khảo sát. Các phương pháp khoa học được áp dụng bao gồm dịch tễ học để đánh giá mức độ nhiễm giun, sán; kỹ thuật hình thái học và sinh học (sử dụng PCR trình tự gen cox1 và ITS2) để định danh và thẩm định các loài sán dây. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp phễu lọc “Berlese Tullgren” để tách nhện đất Oribatidae, vốn là vật chủ trung gian của sán dây, và xác định các triệu chứng lâm sàng cùng tổn thương đại thể ở dê nhiễm sán dây trên thực địa.
Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm giun, sán đường tiêu hóa ở dê tại Bắc Giang là rất cao, với 85,50% số dê bị nhiễm khi mổ khám và 80,68% qua xét nghiệm phân. Trong số các loại ký sinh trùng, giun tròn chiếm tỷ lệ nhiễm đơn cao nhất (54,97%). Tỷ lệ nhiễm giun, sán có sự biến động đáng kể giữa các huyện, dao động từ 71,88% đến 95,35% qua mổ khám và từ 70,46% đến 90,28% qua xét nghiệm phân. Đối với sán dây, tỷ lệ nhiễm chung qua mổ khám là 21,50%, với huyện Sơn Động ghi nhận tỷ lệ cao nhất là 35,71%. Tỷ lệ nhiễm sán dây cũng liên quan đến tuổi của dê, biến động từ 9,39% đến 34,34%. Đặc biệt, phương thức chăn thả truyền thống làm tăng nguy cơ nhiễm sán dây ở dê lên gấp 1,58 lần.
Nghiên cứu cũng ghi nhận sự thay đổi trong một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của dê nhiễm sán dây. Đáng chú ý, 15/15 dê không có triệu chứng lâm sàng vẫn có bệnh tích đại thể, mặc dù ở mức độ nhẹ hơn. Về giải pháp, đề tài đề xuất phác đồ điều trị bệnh sán dây cho dê bằng praziquantel với liều 15 mg/kg thể trọng tiêm tĩnh mạch, cho thấy hiệu lực tẩy sán dây c.