info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu nhiễm giun sán đường tiêu hóa, bệnh sán dây do Moniezia spp. gây ra trên dê tại tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị

Năm2022
Lĩnh vựcNông - Lâm - Ngư
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

Không được cung cấp rõ ràng trong văn bản.

Ngành:

Ký sinh trùng và Vi sinh vật học Thú y (Mã số: 9.64.01.04)

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tiến sĩ Thú y này trình bày kết quả nghiên cứu về thực trạng nhiễm giun, sán đường tiêu hóa ở dê tại tỉnh Bắc Giang, một khu vực trung du miền núi. Mục tiêu chính của đề tài là cung cấp các thông tin khoa học về tình hình bệnh ký sinh trùng này.

Nghiên cứu được tiến hành trên đàn dê nuôi tại 5 huyện thuộc tỉnh Bắc Giang, với các mẫu phân tươi của dê là đối tượng khảo sát. Các phương pháp khoa học được áp dụng bao gồm dịch tễ học để đánh giá mức độ nhiễm giun, sán; kỹ thuật hình thái học và sinh học (sử dụng PCR trình tự gen cox1 và ITS2) để định danh và thẩm định các loài sán dây. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp phễu lọc “Berlese Tullgren” để tách nhện đất Oribatidae, vốn là vật chủ trung gian của sán dây, và xác định các triệu chứng lâm sàng cùng tổn thương đại thể ở dê nhiễm sán dây trên thực địa.

Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm giun, sán đường tiêu hóa ở dê tại Bắc Giang là rất cao, với 85,50% số dê bị nhiễm khi mổ khám và 80,68% qua xét nghiệm phân. Trong số các loại ký sinh trùng, giun tròn chiếm tỷ lệ nhiễm đơn cao nhất (54,97%). Tỷ lệ nhiễm giun, sán có sự biến động đáng kể giữa các huyện, dao động từ 71,88% đến 95,35% qua mổ khám và từ 70,46% đến 90,28% qua xét nghiệm phân. Đối với sán dây, tỷ lệ nhiễm chung qua mổ khám là 21,50%, với huyện Sơn Động ghi nhận tỷ lệ cao nhất là 35,71%. Tỷ lệ nhiễm sán dây cũng liên quan đến tuổi của dê, biến động từ 9,39% đến 34,34%. Đặc biệt, phương thức chăn thả truyền thống làm tăng nguy cơ nhiễm sán dây ở dê lên gấp 1,58 lần.

Nghiên cứu cũng ghi nhận sự thay đổi trong một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của dê nhiễm sán dây. Đáng chú ý, 15/15 dê không có triệu chứng lâm sàng vẫn có bệnh tích đại thể, mặc dù ở mức độ nhẹ hơn. Về giải pháp, đề tài đề xuất phác đồ điều trị bệnh sán dây cho dê bằng praziquantel với liều 15 mg/kg thể trọng tiêm tĩnh mạch, cho thấy hiệu lực tẩy sán dây c.

Mục lục chi tiết:

  • MỞ ĐẦU

    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài
  • TỔNG QUAN TÀI LIỆU

    • 1.1. Cơ sở khoa học của đề tài Giun, sán ký sinh đường
  • ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

      • Động vật thí nghiệm: dê nuôi tại 5 huyện ở tỉnh Bắc Giang.
      • Các loại mẫu nghiên cứu: mẫu phân tươi của dê
      • Định danh loài sán dây ở dê bằng kỹ thuật hình thái học.
      • Thẩm định loài sán dây ở dê bằng kỹ thuật sinh
    • 2.4.1.2. Phương pháp nghiên cứu nhiễm các loài giun, sán đường tiêu hóa dê

      • Sử dụng phương pháp dịch tễ học
      • Tiến hành tách nhện đất Oribatidae theo phương pháp phễu lọc “Berlese Tullgren” dựa theo tập tính hướng sá
    • Phương pháp xác định triệu chứng lâm sàng và tổn thương đại thể ở dê nhiễm sán dây trên thực địa được xác đị

  • 3.1.2.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm các loài giun, sán đường tiêu hóa ở dê qua mổ khám

  • 3.1.2.2. Tỷ lệ nhiễm các loài giun, sán đường tiêu hóa dê qua xét nghiệm phân

  • Sự thay đổi một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của dê gây nhiễm sán dây

  • Biện pháp phòng trị bệnh sán dây cho dê

    • Phác đồ I (praziquantel liều 15 mg/kg TT) hiệu lực tẩy sán dây c

Tài liệu liên quan