info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu nấm đối kháng Trichoderma phòng trừ bệnh mốc vàng do nấm Aspergillus flavus Link. hại lạc tại Nghệ An

Năm2017
Lĩnh vựcNông - Lâm - Ngư
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU NẤM ĐỐI KHÁNG Trichoderma PHÒNG TRỪ BỆNH MÓC VÀNG DO NẤM Aspergillus flavus Link. HẠI LẠC TẠI NGHỆ AN

Ngành:

BẢO VỆ THỰC VẬT

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tập trung nghiên cứu nấm đối kháng Trichoderma để phòng trừ bệnh mốc vàng do nấm Aspergillus flavus Link. gây hại lạc tại Nghệ An, Việt Nam. Cây lạc là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, nhưng thường bị nhiễm A. flavus, loại nấm có khả năng sinh độc tố aflatoxin gây nguy hiểm cho sức khỏe. Mặc dù đã có các nghiên cứu về phòng trừ A. flavus bằng biện pháp canh tác, giống kháng nấm và một số chế phẩm Trichoderma, nhưng việc ứng dụng nấm đối kháng để giảm thiểu độc tố aflatoxin trên lạc vẫn chưa được quan tâm đầy đủ.

Nghiên cứu đã khảo sát thực trạng nhiễm A. flavus trên hạt lạc (từ 28,6% đến 64,4%) và đất trồng lạc (từ 3,3% đến 20%) tại Nghệ An, với tỷ lệ mẫu sinh độc tố aflatoxin cao (77,55% - 81,68%). Từ 1000 mẫu đất trồng lạc thu thập tại Nghệ An, Thanh Hóa và Hà Tĩnh, 449 mẫu có sự hiện diện của nấm Trichoderma. Trong số 99 nguồn Trichoderma phân lập, 28 nguồn (28,3%) có khả năng đối kháng rất cao (PIRG > 75%) với A. flavus. Dựa trên phân tích trình tự gen ITS-rDNA, 15 nguồn nấm đối kháng triển vọng được định danh, trong đó chủ yếu là loài Trichoderma asperellum (chiếm 86,67%), một nguồn là T. harzianum và một nguồn có thể là loài mới gần gũi với T. asperellum. Nguồn T. asperellum (Tri.020(2).NC) cho hiệu quả phòng trừ cao nhất (87,59%) bằng chất kháng sinh bay hơi và được lựa chọn để phát triển chế phẩm.

Luận án đã xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất chế phẩm sinh học T. asperellum (Tri.020(2).NC) với nồng độ bào tử đạt 5,3 × 109 bào tử/gam. Quy trình bao gồm các bước nhân giống cấp 1 trên môi trường PDA, nhân giống cấp 2 trên môi trường lỏng (giá đỗ, đường glucose, urê, KH2PO4, MgSO4) và nhân sinh khối trên môi trường rắn (thóc nguyên hạt với tỷ lệ thóc/nước 1/1, điều kiện ánh sáng 12h sáng/12h tối, nhiệt độ 30°C, đảo trộn 2 lần). Các thử nghiệm an toàn sinh học cho thấy chế phẩm an toàn ở liều uống 10g/kg trên chuột Swiss.

Ứng dụng chế phẩm T. asperellum trong điều kiện đồng ruộng tại Nghi Lộc, Nghệ An cho thấy phương pháp xử lý hạt giống bằng chế phẩm với liều lượng 40 gam/180 gam hạt giống mang lại hiệu quả cao nhất. Phương pháp này đã giảm số lượng mầm bệnh A. flavus trong đất xuống 78,45%, giảm tỷ lệ củ lạc, hạt lạc nhiễm A. flavus tại thời điểm thu hoạch lần lượt 60,71% và 96,44%, và giảm tỷ lệ hạt lạc nhiễm A. flavus sau 12 tháng bảo quản 84,40%. Hàm lượng aflatoxin tổng số trên lạc sau bảo quản cũng giảm 93,08% so với đối chứng. Điều này đã góp phần tăng hiệu quả kinh tế với tỷ suất lợi nhuận tăng từ 0,68 lên 0,80. Luận án đã bổ sung thông tin khoa học mới và mang lại ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc phòng trừ bệnh mốc vàng và giảm thiểu độc tố aflatoxin trên lạc.

Tài liệu liên quan