NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA VIRUS CÚM A/H5 BIẾN CHỦNG MỚI Ở ĐÀN GIA CẦM LÀM CƠ SỞ CHO PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH TẠI VIỆT NAM
Bệnh lý học và chữa bệnh vật nuôi
Luận án tập trung vào nghiên cứu bệnh cúm gia cầm (CGC) do virus cúm A/H5 gây ra, một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm đã lưu hành tại Việt Nam từ cuối năm 2003. Với sự xuất hiện liên tục của các biến chủng virus như clade 1, 2.3.2, 2.3.4, 1.1, 1.1.1, 1.1.2, 7, 2.3.2.1 (cùng các subclade a, b, c) và 2.3.4.4, công tác phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là hiệu quả của vacxin, ngày càng trở nên phức tạp. Do đó, việc xác định sự lưu hành, đặc tính sinh học và hiệu quả của các loại vacxin hiện hành đối với các biến chủng mới là vô cùng cấp thiết, mang tính khoa học và thực tiễn.
Mục tiêu tổng quát của đề tài là xác định sự lưu hành của virus cúm A/H5 biến chủng mới ở đàn gia cầm tại Việt Nam, tìm hiểu các đặc tính sinh học của chúng, từ đó đưa ra khuyến cáo về việc sử dụng vacxin phòng bệnh phù hợp. Các mục tiêu cụ thể bao gồm xác định sự lưu hành, đặc điểm phân tử gen, độc lực của virus cúm A/H5 biến chủng mới, và đánh giá hiệu quả phòng bệnh của một số vacxin cúm gia cầm hiện hành.
Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn từ tháng 11/2015 đến tháng 8/2018 tại 11 tỉnh thuộc cả ba miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu là virus cúm A/H5 biến chủng mới trên đàn gia cầm, với các mẫu swab hầu họng được thu thập từ ổ dịch, chợ và trại chăn nuôi. Các xét nghiệm chuyên sâu và thí nghiệm động vật được tiến hành tại Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương.
Kết quả nghiên cứu đã xác định được sự lưu hành của virus cúm A/H5 biến chủng mới tại 11 tỉnh trong giai đoạn 2015-2018, bao gồm A/H5N6 subclade 2.3.4.4a/b phân bố ở miền Bắc và miền Trung, cùng với A/H5N1 clade 2.3.2.1c chủ yếu ở miền Nam, trong đó chưa phát hiện virus A/H5N6 ở miền Nam. Tỷ lệ dương tính với virus cúm A (gen M) là 9,15%, A/H5 là 1,15%, A/H5N1 là 0,23% và A/H5N6 là 0,65%. Tỷ lệ nhiễm cao nhất được ghi nhận trên vịt (A/H5N1 0,42%, A/H5N6 1,27%), sau đó là gà (A/H5N1 0,23%, A/H5N6 0,5%), và chưa phát hiện trên chim cút.
Về đặc tính sinh học, các biến chủng virus cúm A/H5 mới phân lập được (H5N1 clade 2.3.2.1c, H5N6 clade 2.3.4.4a và 2.3.4.4b) đều thuộc thể độc lực cao với chỉ số IVPI lần lượt là 2.95, 2.78 và 2.87. Chúng mang đặc điểm trình tự gen khác biệt so với các chủng virus vacxin hiện hành (Navet-vifluvac, Re-5), có tính đặc hiệu với receptor của gia cầm, gây ra các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích điển hình của bệnh CGC độc lực cao như sốt cao, ủ rũ, mệt mỏi, chảy nước mắt, nước mũi, khó thở, phù, sung huyết, xuất huyết và hoại tử ở hầu hết các cơ quan phủ tạng.
Khả năng bảo hộ của các loại vacxin hiện hành cho thấy, đáp ứng miễn dịch dị chủng từ vacxin Navet-vifluvac và Re-5 với các biến chủng này tạo được miễn dịch trên ngưỡng bảo hộ (>4log2) nhưng không tạo ra trạng thái miễn dịch vô trùng hoàn toàn. Khả năng bảo hộ lâm sàng đạt 50-80% ở gà và 100% ở vịt. Gà được gây miễn dịch dị chủng bằng Navet-vifluvac và Re-5 có xu hướng giảm bài thải virus cường độc và giảm rõ rệt biến đổi bệnh tích đại thể. Đặc biệt, virus H5N6 clade 2.3.4.4b cho thấy khả năng vượt qua đáp ứng miễn dịch dị chủng tốt hơn (gây tình trạng mang trùng và tỷ lệ chết cao hơn cho động vật thí nghiệm) so với H5N6 clade 2.3.4.4a và H5N1 clade 2.3.2.1c. Vacxin Navet-vifluvac bảo hộ lâm sàng cho gà (70-80%) chống lại virus cúm A/H5 biến chủng mới tốt hơn vacxin Re-5 (50-70%).