NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHẰM TÁI CANH NGAY CÂY CÀ PHÊ VỐI (Coffea canephora Pierre var. robusta) TẠI TỈNH ĐẮK LẮK
Khoa học cây trồng
Luận án này tập trung giải quyết vấn đề tái canh cây cà phê vối (Coffea canephora Pierre var. robusta) tại tỉnh Đắk Lắk, nơi diện tích tái canh đã đạt 28.848 ha tính đến năm 2019 nhưng gặp nhiều thách thức. Các diện tích cà phê trồng lại trên đất cũ thường xuất hiện triệu chứng vàng lá, thối rễ và chết cây với tỷ lệ cao (≥ 90%), chủ yếu do tuyến trùng và nấm bệnh gây hại rễ. Việc luân canh dài ngày gây khó khăn kinh tế cho nông hộ.
Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật như xử lý đất, sử dụng biện pháp sinh học, hóa học để kiểm soát tuyến trùng và nấm gây hại rễ, cùng với việc đánh giá khả năng kháng tuyến trùng của vật liệu giống làm gốc ghép. Trên cơ sở đó, xác định biện pháp kỹ thuật thích hợp để tái canh ngay cây cà phê vối.
Về mặt khoa học, luận án góp phần hoàn thiện Quy trình trồng và tái canh cà phê vối, bổ sung cơ sở dữ liệu khoa học cho cây cà phê tái canh, làm nền tảng đề xuất giải pháp quản lý cây trồng tổng hợp (ICM). Về thực tiễn, nghiên cứu giúp rút ngắn thời gian luân canh, phục hồi nhanh diện tích tái canh, ổn định quy mô và sản lượng, tăng tính bền vững cho ngành cà phê Việt Nam.
Những điểm mới của luận án bao gồm: xác định biện pháp hóa học xử lý đất hiệu quả, giảm 70% mật số tuyến trùng và 80% nấm Fusarium spp. sau 12 tháng; xác định biện pháp kết hợp hóa học và sinh học giúp giảm tỷ lệ cây vàng lá (15,6 – 28,9%) và cây chết (6,7 – 17,8%) sau 24 tháng; và đánh giá, xác định được vật liệu giống có khả năng kháng tuyến trùng dùng làm gốc ghép, giúp giảm khoảng 50% tỷ lệ cây vàng lá và cây chết sau 24 tháng trồng.
Các kết luận chính cho thấy sự hiệu quả của việc sử dụng hoạt chất Ethoprophos + Copper hydroxide và chế phẩm Trichoderma spp. + Paecilomyces spp. trong xử lý đất. Bột dã quỳ ở liều lượng 1.000 g/cây (năm 1) và 2.000 g/cây (năm 2) cũng cho thấy khả năng kiểm soát tuyến trùng và nấm Fusarium spp. tốt, dẫn đến tỷ lệ cây vàng lá và cây chết thấp nhất. Biện pháp kết hợp hóa học và sinh học, đặc biệt là Vimoca 10 G + TKS – NEMA, đã giảm đáng kể mật số tuyến trùng và nấm gây hại, với tỷ lệ cây vàng lá và cây chết thấp nhất sau 24 tháng trồng. Vật liệu giống 34/2 làm gốc ghép, đặc biệt khi ghép với chồi TR11, cũng giảm mật số tuyến trùng rễ và tần suất xuất hiện nấm Fusarium spp., đạt tỷ lệ cây vàng lá 20,0% và cây chết 6,7% sau 24 tháng.