Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
Đang tải tài liệu...
NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ LƯU VỰC SÔNG BẰNG GIANG - KỲ CÙNG THUỘC ĐỊA PHẬN VIỆT NAM
Sinh học
Luận án "Nghiên cứu khu hệ cá lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng thuộc địa phận Việt Nam" được thực hiện nhằm giải quyết tính cấp thiết về sự suy giảm nguồn lợi cá do tác động của hoạt động kinh tế - xã hội và thiếu nghiên cứu hệ thống. Mục tiêu chính là xác định thành phần loài, mức độ đa dạng, đặc điểm phân bố theo địa điểm, nhóm sinh thái, địa lý, đồng thời đánh giá hiện trạng nguồn lợi và nghề cá để đề xuất các giải pháp bảo vệ, khai thác hợp lý và phát triển bền vững.
Kết quả nghiên cứu đã xác định được tổng cộng 202 loài cá, thuộc 99 giống, 24 họ và 8 bộ tại lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng. Trong số này, 124 loài được thu mẫu trực tiếp, 78 loài không thu được mẫu nhưng được tổng hợp từ các nghiên cứu trước. Luận án đã bổ sung cho khoa học 1 giống và 1 loài mới, đồng thời ghi nhận 3 giống và 3 loài mới cho khu hệ cá nước ngọt Việt Nam, cùng 3 giống và 22 loài mới cho vùng nghiên cứu. Đặc biệt, có 28 loài đặc hữu miền Bắc Việt Nam, trong đó 12 loài chỉ được ghi nhận tại KVNC. 25 loài cá được xác định cần bảo tồn, dựa trên danh sách Sách Đỏ Việt Nam, Quyết định 82 của Bộ NN&PTNT và Danh lục đỏ IUCN.
Về phân bố, khu hệ cá thể hiện sự đa dạng cao, với bộ cá Vược có số họ nhiều nhất (8 họ, chiếm 33,33%) và họ cá Chép có số giống nhiều nhất (59 giống, chiếm 59,6%). Giống cá Chát (Acrossocheilus) có số loài nhiều nhất với 7 loài. Bộ cá Chép và họ cá Chép chiếm ưu thế về số lượng loài (144 và 122 loài tương ứng). Phân bố theo không gian cho thấy huyện Phục Hòa và Tràng Định có số loài cao nhất. Hệ sinh thái nước chảy và địa hình đồi núi (sông Bằng Giang) hoặc máng trũng (sông Kỳ Cùng) đều cho thấy sự đa dạng loài cao. Các loài cá chủ yếu phân bố ở tầng giữa.
Khu hệ cá tại đây có mức độ tương đồng cao với các khu hệ cá sông Hồng, sông Đà và sông Lam, nhưng ít tương đồng với sông Mã và sông Gianh. Nguồn gốc địa động vật chủ yếu là Bắc Việt Nam – Hoa Nam (82,9%). Luận án cũng chỉ ra giá trị đa dạng của nguồn lợi cá, bao gồm 34 loài có giá trị kinh tế, 15 loài làm thuốc, 47 loài làm cảnh, và các loài có vai trò phòng bệnh, diệt sâu bệnh. Nguồn lợi cá nuôi đang chiếm ưu thế so với cá tự nhiên. Dựa trên các phát hiện này, luận án đề xuất các giải pháp khai thác hợp lý, bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi cá.
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên