NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ PHẪU THUẬT FONTAN TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN TIM BẨM SINH CÓ SINH LÝ TUẦN HOÀN MỘT THẤT
Nhi khoa
Luận án "Nghiên cứu kết quả phẫu thuật Fontan trong điều trị bệnh nhân tim bẩm sinh có sinh lý tuần hoàn một thất" của Trần Đắc Đại, thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2021, chuyên ngành Nhi khoa. Nghiên cứu này nhằm đánh giá một cách hệ thống kết quả phẫu thuật Fontan ở cả giai đoạn sớm và trung hạn, đồng thời xác định các yếu tố liên quan tại Trung tâm Tim mạch Bệnh viện E. Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam với quy mô lớn, khảo sát 145 bệnh nhân được phẫu thuật Fontan từ tháng 8/2012 đến tháng 12/2019.
Về kết quả giai đoạn sớm, tỷ lệ bệnh nhân sống sót khi ra viện là 91,0%, với SpO2 trung bình cải thiện từ 81,2% trước phẫu thuật lên 95,2%. Tỷ lệ thất bại tuần hoàn Fontan sớm là 9,7%, trong đó 92,9% các trường hợp này dẫn đến tử vong sớm (tổng tỷ lệ tử vong sớm là 9,0%). Các biến chứng sớm phổ biến bao gồm suy tuần hoàn sau phẫu thuật Fontan (6,9%), suy thận cấp (6,2%) và tràn dịch màng phổi kéo dài (20,0%). Ba yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến thất bại tuần hoàn Fontan sớm là tăng áp lực động mạch phổi (ALĐMP) trung bình trước phẫu thuật, phẫu thuật sửa van nhĩ thất cùng thời điểm Fontan, và tăng ALĐMP trung bình sau phẫu thuật.
Ở giai đoạn trung hạn, tỷ lệ sống đến thời điểm khám lại lần cuối là 91,6%, với tỷ lệ tử vong trung hạn là 8,4%. Các biến chứng trung hạn ghi nhận bao gồm rối loạn nhịp tim (33,7% tại thời điểm tái khám), hội chứng mất protein ruột (4,2%) và biến chứng thần kinh (3,2%). Tràn dịch màng phổi kéo dài được xác định là yếu tố nguy cơ độc lập cho tử vong muộn. Nghiên cứu cũng chỉ ra 6 yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến tràn dịch màng phổi kéo dài và 2 yếu tố liên quan đến tình trạng nhịp nhĩ sau phẫu thuật Fontan.
Luận án kiến nghị chẩn đoán và xử lý sớm ở giai đoạn một cho bệnh nhân tim bẩm sinh có sinh lý tuần hoàn một thất để tránh quá tải thất và tăng áp lực mạch phổi. Cần theo dõi sát bệnh nhân sau phẫu thuật Fontan để xử lý kịp thời các biến chứng sớm và trung hạn, đồng thời cần có thêm nghiên cứu về phác đồ xử lý mỏm cụt động mạch phổi.
1.1.1. Định nghĩa
1.1.2. Khái niệm đặc trưng
1.1.3. Liệu pháp điều trị
1.2.1. Nhóm bệnh giải phẫu có mất kết nối 2 trong 3 tầng giải phẫu ở một bên có kèm thiểu sản tâm thất cùng bên, gồm các thể bệnh
1.2.2. Nhóm bệnh có kết nối bất thường 2 trong 3 tầng giải phẫu và không có khả năng sửa chữa 2 tâm thất
1.4.1. Biến chứng giai đoạn sớm và các yếu tố nguy cơ
1.4.1.1. Đặc điểm bệnh học, biến chứng và tỷ lệ tử vong
1.4.2. Biến chứng giai đoạn muộn và các yếu tố nguy cơ
1.5.1. Trên thế giới
1.5.2. Tại Việt Nam
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
2.2.1. Thời gian nghiên cứu
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
2.3.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
2.4.1. Công cụ thu thập số liệu
2.4.2. Quy trình thực hiện nghiên cứu
2.4.3. Trang thiết bị và dụng cụ
2.5.1. Biến độc lập
2.5.2. Biến phụ thuộc
3.1.1. Một số đặc điểm chung của bệnh nhân trước phẫu thuật Fontan
3.1.2. Một số đặc điểm trên siêu âm tim của bệnh nhân trước phẫu thuật Fontan
3.1.3. Một số chỉ số trên thông tim trước phẫu thuật
3.2.1. Đặc điểm trong quá trình phẫu thuật Fontan
3.2.2. Kết quả phẫu thuật Fontan giai đoạn sớm
3.2.2.1. Thông số huyết động và triệu chứng phù ngay sau phẫu thuật
3.2.2.2. Biến chứng sớm sau phẫu thuật Fontan
3.2.2.3. Thất bại tuần hoàn Fontan ở giai đoạn sớm
3.2.2.4. Thời gian thở máy, thời gian nằm hồi sức và thời gian nằm viện sau phẫu thuật Fontan
3.2.3. Kết quả trung hạn phẫu thuật Fontan
3.2.3.1. Số lần tái nhập viện sau phẫu thuật Fontan
3.2.3.2. Tỷ lệ bệnh nhân có suy tim sau phẫu thuật Fontan
3.2.3.3. Tỷ lệ bệnh nhân có rối loạn nhịp tim ở các thời điểm
3.2.3.4. Các vấn đề còn tồn tại của bệnh nhân sau phẫu thuật Fontan trên siêu âm tim
3.2.3.5. Các kỹ thuật tiến hành sau phẫu thuật Fontan
3.2.3.6. Hội chứng mất protein ruột
3.2.3.7. Nguy cơ tăng đông và biến chứng thần kinh
3.2.3.8. Tỷ lệ bệnh nhân tử vong sau phẫu thuật Fontan giai đoạn muộn
3.2.3.9. Phát triển thể chất của bệnh nhân sau phẫu thuật Fontan
3.3.1. Một số yếu tố liên quan đến thất bại tuần hoàn Fontan ở giai đoạn sớm
3.3.2. Một số yếu tố liên quan đến biến chứng tràn dịch màng phổi kéo dài
3.3.3. Các yếu tố tiên lượng đối với tình trạng nhịp nhĩ ở điểm tái khám
3.3.4. Một số yếu tố liên quan đến tử vong muộn sau phẫu thuật Fontan
Tỷ lệ BN sống ở thời điểm ra viện là 91,0%, không còn BN suy tim độ III sau phẫu thuật và SpO2 trung bình cải thiện từ 81,2% trước phẫu thuật lên 95,2%.
Tỷ lệ thất bại tuần hoàn Fontan ở giai đoạn sớm là 9,7%.
Tỷ lệ tử vong sớm là 9,0% và đều do thất bại tuần hoàn Fontan.
Các biến chứng sớm được ghi nhận bao gồm suy tuần hoàn sau phẫu thuật Fontan (6,9%), suy thận cấp (6,2%) và tràn dịch màng phổi kéo dài (20,0%).
Với 131 BN ổn định trước khi ra viện, kết quả ghi nhận như sau: Số ngày nằm hồi sức trung bình là 7,7 ± 9,5 ngày. Số giờ thở máy trung bình là 50,2 ± 127,3 giờ. Số ngày nằm viện sau phẫu thuật trung bình là 30,7 ± 19,0 ngày. Số ngày dẫn lưu dịch màng phổi trung bình là 13,9 ± 11,4 ngày.
95 BN tái khám sau phẫu thuật Fontan, với thời gian tái khám sau phẫu thuật trung bình là 44,9 ± 19,9 tháng.
Tỷ lệ sống đến thời điểm khám lại lần cuối là 91,6%.
Tỷ lệ tử vong trong giai đoạn trung hạn là 8,4%.
Các biến chứng giai đoạn trung hạn:
Tỷ lệ BN có rối loạn nhịp tại thời điểm tái khám là 33,7% cao hơn so với trước phẫu thuật (7,6%) và lúc ra viện (5,3%).
7,4% BN có biến chứng trong giai đoạn trung hạn. Trong đó, 4,2% BN được chẩn đoán có hội chứng mất protein ruột và 3,2% BN có biến chứng thần kinh.
Không có trường hợp nào có huyết khối trong ống Fontan ở thời điểm tái khám.