Thông tin không được cung cấp trong văn bản.
Thông tin không được cung cấp trong văn bản.
Nghiên cứu này tập trung vào u nguyên bào thận (Wilms' tumor) ở trẻ em, một loại u đặc phổ biến chiếm 85-90% các trường hợp ung thư thận trẻ em dưới 15 tuổi tại các nước phát triển. Mặc dù điều trị ung thư nhi nói chung và u nguyên bào thận nói riêng đã đạt nhiều thành công trên thế giới, việc điều trị tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, vẫn còn nhiều khó khăn. Hai phác đồ điều trị chính được áp dụng toàn cầu là SIOP (Hội ung thư nhi khoa quốc tế) và NWTS (Nhóm nghiên cứu u nguyên bào thận quốc gia, của Mỹ), mỗi cách tiếp cận đều có những ưu nhược điểm riêng. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu sử dụng phác đồ NWTS 5.
Từ tháng 7 năm 2008, Bệnh viện Nhi Trung ương đã bắt đầu áp dụng phác đồ SIOP 2001 trong khuôn khổ hợp tác với Bệnh viện trường Đại học Lund, Thụy Điển. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá kết quả điều trị, nghiên cứu tính chất mô khối u sau hóa trị như một yếu tố tiên lượng, đồng thời giảm tỷ lệ bệnh nhân phải dùng Doxorubicin và tia xạ sau phẫu thuật để hạn chế tai biến và biến chứng muộn. Phác đồ SIOP dựa vào chẩn đoán hình ảnh và hóa trị trước phẫu thuật, nhưng có nhược điểm là khó xác định chính xác giai đoạn và mô bệnh học ban đầu, tiềm ẩn nguy cơ chẩn đoán sai (lên đến 25%) và liều Doxorubicin/tia xạ có thể cao hơn so với NWTS. Ưu điểm của NWTS là đảm bảo chẩn đoán chính xác ban đầu về giai đoạn, tính chất mô bệnh học và biến đổi di truyền.
Nghiên cứu theo dõi 60 bệnh nhân từ 01/07/2008 đến 30/06/2013, sử dụng phác đồ SIOP 2001 với hóa trị trước phẫu thuật và điều trị sau phẫu thuật dựa trên giai đoạn và nhóm nguy cơ mô bệnh học. Các chỉ số theo dõi bao gồm tình trạng sống khỏe mạnh không bệnh, sống thêm toàn bộ, tái phát và tử vong.
Kết quả cho thấy hầu hết bệnh nhân được chẩn đoán dưới 5 tuổi, với khối u bụng là triệu chứng lâm sàng chính (85%). Sau điều trị hóa chất trước phẫu thuật, thể tích trung bình của khối u giảm đáng kể 47,7% (từ 318,8 ± 269,1 cm3 xuống 166,8 ± 174,5 cm3), với ý nghĩa thống kê rất lớn (p = 0,0001). Thể tích khối u ban đầu không liên quan đến mức độ giảm thể tích sau điều trị hóa chất (p = 0,359). Trong số 58 bệnh nhân được theo dõi đầy đủ, tỷ lệ sống khỏe mạnh không bệnh đạt 75,9%, tỷ lệ sống thêm toàn bộ là 84,5%. Có 22,4% bệnh nhân tái phát và 15,5% tử vong. Các bệnh nhân còn sống không ghi nhận tai biến hay di chứng nặng do điều trị.