Nghiên cứu hiệu quả thu tinh trùng và hình thái cấu trúc tinh trùng, ống sinh tinh ở bệnh nhân vô tinh không do tắc bằng kỹ thuật micro TESE
Y học
Vô tinh không do tắc được xác định là nguyên nhân nghiêm trọng nhất trong các trường hợp vô sinh nam, chiếm khoảng 10% tổng số bệnh nhân vô sinh nam và 60% số bệnh nhân vô tinh. Hiện tại, vi phẫu thuật thu tinh trùng từ tinh hoàn (Microdissection Testicular Sperm Extraction - micro TESE) được công nhận là phương pháp tối ưu nhất cho nhóm bệnh nhân này, với ưu điểm về tỷ lệ thu tinh trùng cao, ít gây biến chứng và giảm thiểu ảnh hưởng đến chức năng tinh hoàn sau phẫu thuật nhờ khả năng quan sát rõ ràng các ống sinh tinh và tránh mạch máu dưới kính hiển vi vi phẫu.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, micro TESE vẫn là một kỹ thuật mới và chưa có công trình nghiên cứu toàn diện nào đánh giá hiệu quả thu tinh trùng cũng như mô tả chi tiết hình thái cấu trúc của tinh trùng và ống sinh tinh thu được. Nhận thấy khoảng trống này, đề tài được thực hiện với hai mục tiêu chính: một là mô tả các đặc điểm hình thái cấu trúc của tinh trùng và ống sinh tinh thu được từ bệnh nhân vô tinh không do tắc bằng micro TESE; hai là đánh giá hiệu quả của kỹ thuật này và mối liên quan giữa các yếu tố với khả năng thu tinh trùng.
Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật và thực tiễn sâu sắc. Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu toàn diện về hiệu quả thu tinh trùng của micro TESE và đặc điểm hình thái cấu trúc tinh trùng, ống sinh tinh. Đặc biệt, nghiên cứu này tiên phong trong việc sử dụng enzym để phân lập mẫu mô, thay thế các phương pháp truyền thống nhằm giảm tối đa tổn thương tế bào. Kết quả ban đầu cho thấy micro TESE là phương pháp hiệu quả với tỷ lệ thu được tinh trùng đạt 37%, ngay cả ở những bệnh nhân có thể tích tinh hoàn nhỏ (4ml). Đối tượng nghiên cứu bao gồm 100 bệnh nhân vô tinh không do tắc, được thực hiện từ tháng 8/2016 đến 10/2018 tại các cơ sở y tế chuyên sâu.
Kết quả chi tiết cho thấy đối tượng nghiên cứu có tuổi trung bình là 32,21, với 93% trường hợp vô sinh nguyên phát và trung vị thời gian vô sinh là 4 năm. 34% bệnh nhân có tiền sử quai bị và 19% có bất thường gen AZF. Về tinh trùng thu được, mật độ tinh trùng thấp là phổ biến (54,1% trường hợp dưới 1.10^6/mL), tỷ lệ tinh trùng di động tiến tới trung vị là 0%, và chỉ 1,6% tinh trùng có hình thái bình thường, trong đó bất thường phối hợp và bất thường đầu chiếm tỷ lệ cao nhất.