NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ THẮT GIÃN TĨNH MẠCH THỰC QUẢN KẾT HỢP PROPRANOLOL TRONG DỰ PHÒNG XUẤT HUYẾT TÁI PHÁT VÀ TÁC ĐỘNG LÊN BỆNH DẠ DÀY TĂNG ÁP CỬA DO XƠ GAN
Y học
Luận án này tập trung nghiên cứu hiệu quả của phương pháp thắt giãn tĩnh mạch thực quản (GTMTQ) kết hợp với Propranolol trong dự phòng xuất huyết tái phát và đánh giá tác động lên bệnh dạ dày tăng áp cửa (BDDTAC) do xơ gan. Xơ gan là một bệnh lý thường gặp, có xu hướng gia tăng và là gánh nặng cho nền kinh tế, xã hội.
Nghiên cứu có ý nghĩa khoa học trong việc tìm hiểu cơ chế tác động của thắt GTMTQ kết hợp Propranolol lên BDDTAC và sự hình thành giãn tĩnh mạch dạ dày, làm rõ cơ chế hình thành và tiến triển của hai đặc điểm bệnh lý này, đồng thời tìm hiểu bản chất của vết trợt dạ dày trong BDDTAC. Về ý nghĩa thực tiễn, nghiên cứu giúp xác định tần suất, phân bố các đặc điểm bệnh lý.
Về phương pháp, nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8/2009 đến tháng 3/2012 trên các bệnh nhân xơ gan từ 18-75 tuổi có biểu hiện xuất huyết tiêu hóa do vỡ GTMTQ đã được điều trị ổn định. Các phương pháp đánh giá bao gồm phân loại mức độ suy gan theo Child-Pugh, nội soi dạ dày để đánh giá BDDTAC, vết trợt dạ dày, giãn tĩnh mạch dạ dày theo Sarin S.K., lấy mẫu sinh thiết và theo dõi định kỳ quá trình thắt triệt tiêu GTMTQ.
Kết quả cho thấy độ tuổi trung bình mắc bệnh là 48,96 ± 10,57, với nguyên nhân xơ gan do rượu chiếm đa số (69,6%). Tỷ lệ xơ gan do rượu kết hợp viêm gan virus B, C lên đến 88,2%. Về lâm sàng, đa số bệnh nhân có giãn tĩnh mạch thực quản độ III (94,1%) và dấu đỏ xuất hiện chủ yếu ở GTMTQ độ III (p < 0,05). BDDTAC xuất hiện nhiều ở thân vị (89,2%) và phình vị (90,2%), ít ở hang vị (4,9%), với tỉ lệ nhẹ/nặng là 89,1%/10,9%. Vết trợt dạ dày tập trung chủ yếu ở hang vị (16,7%).
Nghiên cứu chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa sự xuất hiện BDDTAC và nguyên nhân xơ gan do rượu hoặc viêm gan B kết hợp rượu (p < 0,001). Tương tự, có mối liên quan giữa sự xuất hiện vết trợt dạ dày và nguyên nhân xơ gan do rượu (p 0,05). Các đặc điểm giải phẫu bệnh của BDDTAC bao gồm phù nề niêm mạc (81,4%), giãn mạch (67,6%) và mạch máu tân tạo (46,1%), với giãn mạch và mạch máu tân tạo có sự khác biệt rõ rệt giữa hang vị và thân vị.