NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Y học
Luận án tiến sĩ y học này tập trung nghiên cứu về u tiểu não ở trẻ em, một loại u chiếm tỷ lệ cao trong các khối tăng sinh ở hệ thần kinh trung ương ở trẻ dưới 15 tuổi, đặc biệt ở vùng hố sau. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá tỷ lệ sống và tử vong sau 5 năm khi áp dụng các liệu pháp điều trị như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị liệu, đồng thời xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị và đưa ra khuyến nghị nhằm cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhi ung thư ở Việt Nam. Nghiên cứu mô tả tiến cứu theo dõi dọc được thực hiện trên 124 bệnh nhân u tiểu não đã phẫu thuật và xác định mô bệnh học tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ năm 2009 đến 2013.
Kết quả cho thấy, các triệu chứng lâm sàng phổ biến bao gồm nôn (89,5%), đau đầu (81,5%), phù gai thị (54,4%), mất điều hòa động tác (89,5%), loạng choạng (87,9%) và run chi (32,3%). Đau đầu là dấu hiệu khởi phát thường gặp nhất (62,9%). Về mô bệnh học, u nguyên tủy bào chiếm tỷ lệ cao nhất (49,2%), tiếp đến là u tế bào hình sao (33,9%) và u màng não thất (13,7%). Các u có độ ác tính cao (độ III và độ IV) chiếm 56,4%. U thường định vị ở thùy nhộng (71,8%) với đường kính trung bình từ 3-5 cm.
Về kết quả điều trị, đến cuối nghiên cứu, 44,4% bệnh nhân còn sống. Tỷ lệ tử vong trong năm đầu chiếm 78,3% tổng số ca tử vong. U tế bào hình sao có tiên lượng tốt hơn đáng kể với tỷ lệ sống đạt 69,0%, trong khi u nguyên tủy bào là 31,1% và u màng não thất là 23,5%. Phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn u được thực hiện trên 51,6% bệnh nhân. Đối với u nguyên tủy bào, điều trị kết hợp phẫu thuật, hóa chất và xạ trị mang lại tỷ lệ sống cao nhất (78,9%), trong khi phẫu thuật đơn thuần có tỷ lệ tử vong cao. Kích thước khối u lớn hơn 5 cm và sự xâm lấn, di căn thân não hoặc tủy sống là các yếu tố liên quan đến tiên lượng xấu. Nghiên cứu khuyến nghị cần phẫu thuật tối đa khối u, sau đó kết hợp với xạ trị và hóa trị liệu, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết của các nghiên cứu sâu hơn về phác đồ điều trị và bệnh lý gen.