Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh và kết quả điều trị can thiệp mạch phình động mạch hệ sống-nền vỡ
Phình động mạch não trong sọ là một bệnh lý thầm lặng, với tỉ lệ mắc từ 1,5-8% dân số, thường chỉ được chẩn đoán khi vỡ, gây ra 85% các trường hợp chảy máu khoang dưới nhện không do chấn thương. Đặc biệt, phình động mạch não ở hệ sống-nền (tuần hoàn sau) chiếm 15% các trường hợp vỡ, mang nguy cơ chảy máu hệ não thất và khoang dưới nhện cao gấp 2,3 lần so với tuần hoàn trước, gây khó khăn trong điều trị, tỉ lệ tái phát, di chứng và tử vong cao.
Hiện có hai phương pháp điều trị chính cho phình động mạch não vỡ là vi phẫu thuật kẹp cổ túi phình và can thiệp nội mạch. Phương pháp can thiệp nội mạch, sử dụng vòng xoắn kim loại hoặc keo để nút kín túi phình, đã chứng minh tính an toàn, hiệu quả và ít xâm lấn hơn so với vi phẫu thuật trên thế giới. Tuy nhiên, kỹ thuật này chưa được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam, tạo ra nhu cầu cấp thiết cho các nghiên cứu chuyên sâu.
Đề tài "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh và kết quả điều trị can thiệp mạch phình động mạch hệ sống-nền vỡ" được thực hiện nhằm mục tiêu nhận xét đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh của bệnh nhân vỡ phình động mạch hệ sống - nền có chỉ định can thiệp mạch, đồng thời đánh giá kết quả điều trị can thiệp nội mạch nút phình. Nghiên cứu tiến cứu, mở, cắt ngang, không đối chứng có theo dõi dọc này được thực hiện trên 51 bệnh nhân (22-82 tuổi) tại bệnh viện Nhân dân 115 từ 1/2014 đến 12/2018.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi 40-60 có tỉ lệ mắc bệnh cao nhất (56,86%), với độ tuổi trung bình là 54,55 ± 13,08. Nữ giới chiếm ưu thế (62,75%). Khi vào viện, đa số bệnh nhân có rối loạn ý thức độ nhẹ (54,90%) và tình trạng lâm sàng thuộc Hunt-Hess độ 2 (68,63%). Về đặc điểm hình ảnh, 54,90% trường hợp có xuất huyết dưới nhện kèm theo chảy máu trong não thất hoặc khối máu tụ trong nhu mô (Fisher độ IV). Vị trí xuất huyết ưu thế là bể nền sọ (64,71%), rãnh vỏ não 2 bán cầu (56,86%) và não thất (54,90%). Đa số bệnh nhân có một túi phình (88,24%), với hình dạng dạng túi chiếm chủ yếu (66,67%), kích thước nhỏ (<5mm, 58,82%), cổ phình hẹp (<4mm, 76,47%) và đường bờ không đều (94,12%). Tình trạng co thắt mạch ít gặp (7,84%). Nghiên cứu chưa tìm thấy sự tương quan giữa hình dạng, vị trí, kích thước túi phình, kích thước cổ phình hay co thắt mạch với tình trạng lâm sàng theo phân độ Hunt-Hess. Thời điểm can thiệp chủ yếu là 2-3 ngày sau khi vỡ (50,98%), với phương pháp nút phình mạch bằng vòng xoắn kim loại (VXKL) là phổ biến nhất (64,71%). Các kết quả này đóng góp quan trọng vào chuyên ngành, nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị, giảm tỉ lệ tử vong và tàn phế do vỡ túi phình động mạch sống – nền.