NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH VÀ CỘNG HƯỞNG TỪ XƯƠNG THÁI DƯƠNG TRÊN BỆNH NHÂN ĐIẾC TIẾP NHẬN ĐỂ CHỈ ĐỊNH CẤY ỐC TAI ĐIỆN TỬ
Chẩn đoán hình ảnh
Luận án "Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ xương thái dương trên bệnh nhân điếc tiếp nhận để chỉ định cấy ốc tai điện tử" của Lê Duy Chung, thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội vào năm 2021, thuộc chuyên ngành Chẩn đoán hình ảnh. Đề tài tập trung vào giải quyết vấn đề giảm sức nghe hoặc điếc, đặc biệt ở trẻ em, bằng phương pháp cấy ốc tai điện tử (OTĐT).
Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò thiết yếu của chụp cắt lớp vi tính (CLVT) và cộng hưởng từ (CHT) trong việc đánh giá trước phẫu thuật cấy OTĐT, giúp chẩn đoán dị dạng, đánh giá cấu trúc giải phẫu tai và xác định tình trạng dây thần kinh ốc tai. Luận án được tiến hành trong bối cảnh các nghiên cứu chuyên sâu về CLVT và CHT trong lĩnh vực này tại Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt liên quan đến thính lực, hình ảnh dị dạng tai trong và các biến đổi giải phẫu xương thái dương ảnh hưởng đến phẫu thuật.
Mục tiêu chính của luận án là mô tả đặc điểm thính lực, hình ảnh CLVT và CHT trên bệnh nhân điếc tiếp nhận để phục vụ chỉ định cấy OTĐT, đồng thời đánh giá vai trò của CLVT và CHT trong phẫu thuật này. Các đóng góp mới của đề tài bao gồm việc đánh giá đặc điểm thính lực ở các nhóm bệnh nhân dị dạng tai trong khác nhau, mô tả đầy đủ đặc điểm hình ảnh tai trong bình thường và dị dạng, xác định kích thước ốc tai ở người Việt Nam, mô tả hình ảnh CHT dây thần kinh ốc tai, và phát triển các phương pháp đo khoảng cách (OTN tới xoang sigma, OTN tới cửa sổ tròn - dây VII, vị trí đoạn 3 dây VII) để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến phẫu thuật.
Nghiên cứu được thực hiện trên 132 bệnh nhân (264 tai) từ 12/2014 đến 04/2020 tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Kết quả cho thấy 90,2% tai có sức nghe ở mức độ điếc với ngưỡng nghe trung bình PTA là 107 ± 11,3dB, và 81,9% không xuất hiện sóng V trên ABR. Tỷ lệ dị dạng tai trong là 35,3%, trong khi 18,5% tai có ốc tai bình thường nhưng có bất thường thần kinh ốc tai. Các nhóm bệnh nhân cốt hóa mê đạo, dị dạng nặng tai trong có ngưỡng nghe cao hơn. Các nhóm thiểu sản ốc tai, PCKHT Type III và OTBT-BTTKOT có kích thước ốc tai nhỏ hơn đáng kể so với nhóm không dị dạng.
Luận án khẳng định CLVT và CHT đóng vai trò quan trọng trong chỉ định phẫu thuật OTĐT, giúp phân loại dị dạng tai trong, đánh giá mức độ tổn thương để chọn điện cực phù hợp, và xác định sự hiện diện của dây thần kinh ốc tai. Các yếu tố giải phẫu ảnh hưởng đến phẫu thuật như thông bào xương chũm, vị trí đoạn 3 dây VII, khoảng cách xoang sigma - OTN và khả năng bộc lộ cửa sổ tròn cũng được đánh giá chi tiết bằng CLVT.