Thông tin về tên luận án không được cung cấp trong văn bản.
Thông tin về ngành không được cung cấp trong văn bản.
Luận án tập trung nghiên cứu về u tuyến thượng thận (TTT) lành tính phát hiện tình cờ (PHTC), một tình trạng phổ biến với tỷ lệ mắc dao động từ 1,0% đến 8,7% dân số. Mặc dù đa số u lành tính không triệu chứng, việc chỉ định phẫu thuật vẫn còn nhiều tranh cãi, đặc biệt với các u không tăng tiết hormone hoặc có kích thước dưới 6 cm. Đề tài được thực hiện nhằm giải quyết câu hỏi về sự cần thiết của phẫu thuật khi u không triệu chứng, đồng thời nhận diện các nguy cơ tiềm ẩn như u phát triển kích thước, chuyển sang hoạt động nội tiết hoặc có nguy cơ ác tính hóa.
Nghiên cứu đặt ra hai mục tiêu chính: một là mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của u TTT lành tính PHTC tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong giai đoạn 2015-2018; hai là phân tích chỉ định và kết quả phẫu thuật nội soi (PTNS) điều trị các u này trong cùng giai đoạn.
Các đóng góp mới của luận án bao gồm việc nhận xét chi tiết đặc điểm bệnh lý của u TTT lành tính PHTC (đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, hình ảnh và khả năng hoạt động nội tiết), phân tích các chỉ định PTNS dựa trên bằng chứng tiến triển của u (chuyển sang hoạt động nội tiết, nguy cơ ác tính hóa, u tăng kích thước), và khẳng định PTNS là phương pháp điều trị an toàn, khả thi với tỷ lệ tai biến, biến chứng thấp và không ghi nhận tái phát trong thời gian theo dõi xa.
Về phương pháp, nghiên cứu tiến cứu được thực hiện trên 78 bệnh nhân tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, áp dụng PTNS qua phúc mạc. Kết quả cho thấy tuổi trung bình bệnh nhân là 45,22 ± 13,39 tuổi, nữ giới chiếm đa số (64,1%), và 47,4% bệnh nhân phát hiện u khi khám sức khỏe định kỳ. U vỏ thượng thận là loại phổ biến nhất (66,7%), tiếp theo là u tủy thượng thận (Pheochromocytoma) chiếm 19,2%. Khoảng 30,8% u có hoạt động nội tiết (24,4% biểu hiện hội chứng Cushing cận lâm sàng, 6,4% tăng tiết Catecholamin). Chỉ định mổ chủ yếu do u có kích thước ≥ 4 cm (43,6%) hoặc u hoạt động nội tiết (30,8%). Tỷ lệ tai biến trong mổ là 17,9%, chủ yếu là chảy máu, và tỷ lệ này có mối liên quan đáng kể với kích thước u (p < 0,01). Thời gian phẫu thuật trung bình là 80,39 ± 27,72 phút. Kết quả sớm cho thấy 94,8% trường hợp đạt kết quả tốt, với 5,2% biến chứng sớm. Theo dõi xa trung bình 24,03 ± 12,04 tháng không ghi nhận bất thường về hormone TTT, điện giải đồ, tái phát u hay di căn, và không có trường hợp tử vong. Luận án củng cố vai trò của PTNS trong quản lý u TTT lành tính PHTC.