info@luanan.net.vn
Luận án DOCX

Luận án Nghiên cứu chọn loài cây trồng phù hợp và biện pháp kỹ thuật trồng nhằm hoàn phục môi trường sau khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Năm2018
Lĩnh vựcNông - Lâm - Ngư
Ngôn ngữTiếng Việt

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

Nghiên cứu chọn loài cây trồng phù hợp và biện pháp kỹ thuật trồng nhằm hoàn phục môi trường sau khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Ngành:

Lâm sinh

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án trình bày kết quả nghiên cứu về việc chọn lựa loài cây trồng và các biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm hoàn phục môi trường tại các khu vực khai thác bauxite ở Tây Nguyên, cụ thể tại các mỏ Lộc Phát, Bảo Lộc; Tân Rai, Bảo Lâm thuộc tỉnh Lâm Đồng và Nhân Cơ, Đắk RLấp thuộc tỉnh Đắk Nông. Các khu vực này có đặc điểm địa hình lượn sóng, độ cao tuyệt đối từ 660 – 850m, độ dốc 5 – 10 độ, và lượng mưa hàng năm dao động từ 2.140mm đến 3.100mm.

Nghiên cứu đã đánh giá chi tiết đặc tính đất sau khai thác bauxite. Đất hoàn thổ bằng lớp đất mặt được xác định là ít chua, xốp, có thành phần cơ giới trung bình với khoảng 50% sét vật lý, hàm lượng mùn và nitơ tổng số ở mức trung bình, trong khi hàm lượng K2O và P2O5 lại giàu, kèm theo tổng số cation trao đổi Ca2+ và Mg2+ khá. Đối với đất trên hồ bùn thải, điều kiện môi trường có sự khác biệt rõ rệt: đất thường xuyên ngập nước, có pH gần trung tính, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng với hàm lượng sét từ 19,9 – 29,0%, hàm lượng Al2O3 khoảng 31,0- 32,2%, Fe2O3 khoảng 34,0- 34,9% và SiO2 khoảng 4,3-10,7%.

Dựa trên các đặc điểm thổ nhưỡng này, luận án đã đề xuất các loài cây trồng có triển vọng. Trên đất sau khai thác bauxite đã hoàn thổ, các loài như Keo lai, Bạch đàn, Thông 3 lá, Thông caribê, Tràm úc, Điều, Điều nhuộm, Sục sạc, Cúc đồng được đánh giá cao. Đối với đất hoàn thổ bằng bùn thải, ba loài triển vọng nhất là Keo lai, Bạch đàn urô và Tràm úc. Đặc biệt, Tràm úc được xác định là cây trồng có tiềm năng lớn trên hồ bùn thải sau tuyển quặng.

Về kỹ thuật xây dựng mô hình trồng rừng phục hồi môi trường, luận án khuyến nghị trồng hỗn giao theo đám (diện tích 2-3ha/đám, mỗi đám 01 loài cây và trồng 3-4 loài/năm), theo hàng (1 hàng cây trồng chính kết hợp 01 hàng cây phù trợ/che phủ hoặc 3-5 hàng cây trồng chính kết hợp 01 hàng cây phù trợ/che phủ), hoặc theo tầng (1 tầng cây trồng chính, 1 tầng cây phù trợ và 1 tầng cây che phủ) trên đất đã hoàn thổ. Đối với hồ bùn thải sau tuyển quặng, phương thức trồng thuần loài được ưu tiên.

Các biện pháp kỹ thuật trồng cụ thể cho các loài cây triển vọng cũng được đề xuất: Keo lai, Điều nhuộm, Sục sạc được trồng trên đất sau khai thác bauxite hoàn thổ bằng lớp đất mặt; Tràm úc được trồng trên hồ bùn thải sau tuyển quặng. Phương thức trồng là hỗn loài theo đám hoặc theo hàng trên đất hoàn thổ, và thuần loài trên hồ bùn thải. Mật độ trồng được khuyến nghị là 4.000-5.000 cây/ha với cự ly 1x2,5m hoặc 1x2m. Luận án cũng đưa ra hướng dẫn về xử lý thực bì, bón phân và quy trình chăm sóc kéo dài 4 năm, bao gồm phát dọn thực bì và vun xới gốc 2 lần/năm.

Tài liệu liên quan