info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu chẩn đoán và điều trị phẫu thuật bướu tuyến thượng thận phát hiện tình cờ

Năm2022
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT BƯỚU TUYẾN THƯỢNG THẬN PHÁT HIỆN TÌNH CỜ

Ngành:

Ngoại thận và tiết niệu

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tập trung nghiên cứu chẩn đoán và điều trị phẫu thuật bướu tuyến thượng thận (TTT) phát hiện tình cờ (adrenal incidentaloma), một thuật ngữ được định nghĩa là bướu TTT được phát hiện ngẫu nhiên khi bệnh nhân thực hiện xét nghiệm hình ảnh học vì các bệnh lý không liên quan. Tỷ lệ bướu TTT phát hiện tình cờ ngày càng tăng do sự tiến bộ của các phương tiện hình ảnh học, với tỷ lệ mắc tăng theo tuổi (từ 4-7% ở người trên 40 tuổi và 5-10% ở người trên 70 tuổi) và nguy cơ ung thư tăng theo kích thước bướu (từ 2% với bướu 6 cm). Bướu TTT có thể gây ra nhiều bệnh lý và hội chứng khác nhau như bệnh Conn, hội chứng Cushing, ung thư biểu mô vỏ TTT, bướu sắc bào tủy TTT lành tính và ác tính. Mặc dù phẫu thuật là phương pháp điều trị hiệu quả, việc chẩn đoán và xử trí vẫn còn nhiều tranh luận, đặc biệt đối với bướu không tăng tiết nội tiết tố và có kích thước từ 3-4 cm.

Nghiên cứu này được thực hiện tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 01/2008 đến 12/2019 với cỡ mẫu 672 trường hợp bướu TTT phát hiện tình cờ được phẫu thuật. Mục tiêu chính là mô tả các hình thái lâm sàng và giải phẫu bệnh, xác định tỷ lệ biến chứng của phẫu thuật theo kích thước bướu, bệnh lý và hội chứng, cũng như đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật. Đây là nghiên cứu đầu tiên với cỡ mẫu đủ lớn ở Việt Nam về bướu TTT phát hiện tình cờ, cung cấp dữ liệu quan trọng về tỷ lệ ung thư và biến chứng phẫu thuật theo kích thước và bệnh lý.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của bệnh nhân là 44,1 ± 13,6, nữ giới chiếm đa số (64,9%). Kích thước bướu trung bình là 4,54 ± 2,9 cm. Các hình thái lâm sàng và giải phẫu bệnh phổ biến bao gồm bệnh Conn (27,1%), hội chứng Cushing dưới lâm sàng (22,9%), bướu sắc bào tủy TTT (15,9%) và ung thư vùng TTT (10,6%). Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy bướu tuyến vỏ thượng thận chiếm 50%, bướu sắc bào tủy TTT 25,4%, ung thư biểu mô vỏ thượng thận 5,5%. Nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh rằng tỷ lệ ung thư và tỷ lệ biến chứng phẫu thuật tăng dần theo kích thước bướu (p<0,001).

Về phẫu thuật, 78,4% các trường hợp được phẫu thuật nội soi. Tỷ lệ biến chứng chung là 8,9%, trong đó biến chứng trong phẫu thuật là 6,7% và biến chứng sau phẫu thuật là 2,7%. Tỷ lệ biến chứng cũng khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm bệnh lý, với ung thư vùng TTT có tỷ lệ biến chứng cao nhất (25%). Kết quả điều trị phẫu thuật cho thấy hiệu quả rõ rệt đối với bệnh Conn (91,2% aldosterone về bình thường, 51,6% huyết áp bình thường không dùng thuốc), hội chứng Cushing (cải thiện triệu chứng lâm sàng), và bướu sắc bào tủy TTT (75% huyết áp trở về bình thường). Đối với ung thư biểu mô vỏ thượng thận, tỷ lệ sống còn sau 36 tháng là 82% và sau 60 tháng là 63%.

Luận án khuyến nghị phẫu thuật cắt bướu cho các trường hợp bướu TTT không chức năng có kích thước ≥3,<4 cm do tỷ lệ ung thư đáng kể (5,2%) và tỷ lệ biến chứng phẫu thuật chấp nhận được (5,1%).

Tài liệu liên quan