NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG HỢP LÝ NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÚC
ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN (Mã số: 9 44 02 17)
Luận án "NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG HỢP LÝ NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÚC" tập trung vào việc giải quyết nhu cầu nghiên cứu và đánh giá tổng hợp về thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên (TNTN) và các nguồn lực kinh tế xã hội (KTXH) tại tỉnh Vĩnh Phúc. Mục tiêu chính là đề xuất các giải pháp hợp lý nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho một tỉnh có đặc điểm chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, sở hữu tiềm năng đa dạng về công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và du lịch.
Nghiên cứu làm rõ các nhân tố tác động, quy luật hình thành và sự phân hóa cảnh quan của Vĩnh Phúc thông qua phân tích cấu trúc, chức năng và động lực cảnh quan. Luận án đã tiến hành phân loại, phân vùng và đánh giá cảnh quan nhằm mục đích sử dụng hợp lý TNTN và phát triển KTXH, từ đó đề xuất các định hướng cụ thể cho việc tổ chức không gian phát triển các ngành nông, lâm nghiệp và du lịch theo hướng bền vững. Phạm vi nghiên cứu bao gồm toàn bộ lãnh thổ hành chính tỉnh Vĩnh Phúc với diện tích 1.235,13 km² (năm 2015).
Kết quả nổi bật của luận án bao gồm việc xây dựng một hệ thống phân loại cảnh quan Vĩnh Phúc và hai bản đồ tỉ lệ 1:100.000: bản đồ cảnh quan và bản đồ phân vùng cảnh quan. Cảnh quan Vĩnh Phúc được xác định là đa dạng, phong phú với 11 hệ tầng địa chất, 2 hệ thống đứt gãy và 4 kiểu địa hình chính, trong đó đồng bằng chiếm 80,2%. Đặc biệt, dãy núi Tam Đảo tạo nên sự phân hóa theo đai cao. Các thành phần tự nhiên này mang đặc điểm chung của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa đông lạnh, hình thành kiểu rừng kín thường xanh nhiệt đới ẩm gió mùa.
Luận án cũng đã xây dựng bản đồ đánh giá mức độ thích nghi của cảnh quan cho các loại hình phát triển kinh tế khác nhau. Cụ thể, 3 loại cảnh quan rất thích hợp cho phòng hộ đầu nguồn (chiếm 5,17% diện tích tự nhiên), 22 loại cho rừng sản xuất (26,55%), 19 loại cho cây hằng năm (38,17%), 15 loại cho lúa nước (40,98%), 23 loại cho cây lâu năm (43,84%) và 6 loại cảnh quan rất thuận lợi cho phát triển du lịch (bao gồm các vùng núi và các hồ, đầm lớn). Dựa trên những đánh giá này, luận án đề xuất các định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ, tập trung vào phát triển bền vững các ngành nông, lâm nghiệp và du lịch, đồng thời bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.