NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH SINH HỌC BA LOÀI: MỠ PHÚ THỌ (MAGNOLIA CHEVALIERI), GIỖI ĐÁ (MAGNOLIA INSIGNIS) VÀ NGỌC LAN HOA TRẮNG (MICHELIA ALBA) THUỘC HỌ NGỌC LAN (MAGNOLIACEAE) Ở VIỆT NAM
Hóa hữu cơ
Luận án "Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học ba loài: Mỡ Phú Thọ (Magnolia chevalieri), Giổi đá (Magnolia insignis) và Ngọc lan hoa trắng (Michelia alba) thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae) ở Việt Nam" được thực hiện nhằm khám phá các hợp chất tự nhiên và hoạt tính sinh học của ba loài thực vật thuộc họ Ngọc lan tại Việt Nam. Đây là họ thực vật cổ xưa có nhiều ứng dụng trong y học dân gian và tiềm năng về hoạt tính sinh học, tuy nhiên các nghiên cứu trong nước còn hạn chế.
Công trình đã thành công trong việc khẳng định tên khoa học của ba loài nghiên cứu. Về thành phần hóa học, luận án đã phân lập và xác định cấu trúc của tổng cộng 24 hợp chất sạch và 1 hỗn hợp 2 chất từ ba loài. Cụ thể, từ dịch chiết EtOAc lá Mỡ Phú Thọ (Magnolia chevalieri), đã phân lập được 7 hợp chất sạch và 1 hỗn hợp hai chất, bao gồm 4 sesquiterpene, 1 diterpenoid, 1 alcohol béo và 3 neolignan. Đáng chú ý, hai chất mới thuộc khung neolignan-sesquiterpenoid, Chevalierinol A (MPT8) và Chevalierinol B (MPT9), đã được phát hiện và đặt tên. Năm hợp chất còn lại cùng với hỗn hợp MPT1 và MPT2 cũng lần đầu tiên được phân lập từ loài này.
Từ cặn chiết MeOH lá Giổi đá (Magnolia insignis), sáu hợp chất (1 lignan, 4 flavonoid và 1 sesquiterpenoid) đã được phân lập, tất cả đều lần đầu tiên được tìm thấy từ loài này. Đối với Ngọc lan hoa trắng (Michelia alba), mười một hợp chất đã được phân lập từ cặn chiết n-hexan, EtOAc và BuOH của vỏ thân và rễ, bao gồm 8 sesquiterpene lactone, 1 alkaloid, 1 sesquiterpene lactone glycoside và 1 phenyl propanoid glucoside. Trong số đó, chất mới 2-hydroxy-dihydroparthenolide-2-O-β-D-glucopyranoside (NLT10) được đặt tên là Albaside, cùng 5 hợp chất khác lần đầu tiên được phân lập từ loài này và từ chi Michelia.
Luận án cũng nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu lá và cành của Ngọc lan hoa trắng thu hái tại Đồng Hới, Quảng Bình, cho thấy hàm lượng linalool rất cao (87-91%). Về hoạt tính sinh học, obovatol (MPT7) từ Mỡ Phú Thọ thể hiện hoạt tính ức chế sản sinh NO. Một số chất từ Ngọc lan hoa trắng, đặc biệt là liriodenine (NLT9), cho thấy hoạt tính gây độc tế bào yếu trên các dòng tế bào ung thư người. Những đóng góp này mở ra hướng nghiên cứu tiềm năng về ứng dụng dược liệu từ các loài thực vật này.