Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ DỊ DẠNG ĐỘNG TĨNH MẠCH NÃO VỠ BẰNG PHỐI HỢP NÚT MẠCH VÀ PHẪU THUẬT
Ngoại Thần kinh – Sọ não
Dị dạng động tĩnh mạch não (DDĐTMN) vỡ là một nguyên nhân quan trọng gây chảy máu nội sọ không do chấn thương ở người trẻ, với hậu quả nặng nề và triệu chứng thần kinh kéo dài. Việc điều trị DDĐTMN độ cao vẫn còn nhiều thách thức do nguy cơ mất máu cao trong phẫu thuật đơn thuần và tỷ lệ tái phát chảy máu cao khi nút mạch đơn thuần. Tại Việt Nam, phương pháp phối hợp nút mạch và phẫu thuật đã được áp dụng từ năm 2014 nhằm điều trị triệt để các khối DDĐTMN lớn hoặc độ cao.
Luận án này tập trung nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh và đánh giá kết quả điều trị DDĐTMN vỡ bằng phương pháp phối hợp nút mạch và phẫu thuật, đặc biệt đối với các trường hợp có độ Spetzler-Martin III và IV. Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam phân tích chi tiết về chỉ định, kết quả và lợi ích của từng giai đoạn điều trị phối hợp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số bệnh nhân nhập viện với dấu hiệu tăng áp lực nội sọ và tri giác tỉnh nhưng có dấu hiệu thần kinh khu trú. Máu tụ trong não là loại chảy máu phổ biến nhất, chủ yếu ở trên lều, với kích thước trung bình 4,11±1,44 cm trên lều và 3,45±0,31 cm dưới lều. Về phân độ Spetzler-Martin, độ III chiếm 66,67% và độ IV chiếm 33,33%. Vị trí khối dị dạng thường gặp ở đỉnh chẩm và hỗn hợp. Nguồn động mạch nuôi phổ biến từ não giữa, não sau và não trước, với 1 đến 4 tĩnh mạch dẫn lưu và đa số khối có tính chất khu trú (89,58%).
Nút mạch trước phẫu thuật được chỉ định nhằm giảm nguy cơ chảy máu, tắc các động mạch nuôi khó tiếp cận và tạo ranh giới rõ ràng. Đa số bệnh nhân được nút mạch 1 lần, với tỷ lệ nút tắc trung bình 66,19%. Biến chứng sau nút mạch xảy ra ở 14,58% trường hợp, chủ yếu là chảy máu và phù não. Phẫu thuật lấy khối dị dạng được thực hiện thành công 100%, thường trong vòng 10 ngày sau nút mạch, với lượng máu mất trung bình 393,75ml. Tỷ lệ nút tắc cao có liên quan đến lượng máu mất trong mổ giảm. Biến chứng sau phẫu thuật là 14,58% (chảy máu, phù não, giãn não thất, động kinh, rò DNT, thiếu máu não), và có 1 trường hợp tử vong (2,08%). Kết quả điều trị cuối cùng cho thấy tỷ lệ tốt đạt 79,17% (mRS 0-2), trung bình 16,67% (mRS 3-4), và xấu 4,16% (mRS 5-6).
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên