HIỆU QUẢ CAN THIỆP DINH DƯỠNG CHO TRẺ 12-36 THÁNG TUỔI BIẾNG ĂN SAU SỬ DỤNG KHÁNG SINH TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC NINH
Dinh dưỡng (Mã số: 9720401)
Luận án này của Nguyễn Thị Lương Hạnh, chuyên ngành Dinh dưỡng, được hoàn thành tại Viện Dinh dưỡng vào năm 2019, tập trung nghiên cứu hiệu quả can thiệp dinh dưỡng cho trẻ 12-36 tháng tuổi biếng ăn sau sử dụng kháng sinh tại Khoa nhi, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh. Đề tài được thực hiện dựa trên thực trạng biếng ăn là một triệu chứng phổ biến ở trẻ em, ảnh hưởng đến 20-50% trẻ 6-36 tháng tuổi, gây ra các hậu quả như kém hấp thu dinh dưỡng, chậm phát triển cân nặng, chiều cao, thiếu vi chất và suy giảm miễn dịch. Đặc biệt, việc sử dụng kháng sinh rộng rãi, thường xuyên có thể gây rối loạn hệ vi sinh đường ruột và ảnh hưởng đến hoạt động enzyme tiêu hóa, dẫn đến biếng ăn, suy dinh dưỡng ở trẻ.
Nghiên cứu đặt ra ba mục tiêu chính: (1) Mô tả thực trạng biếng ăn và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ 12-36 tháng tuổi sau sử dụng kháng sinh; (2) So sánh hiệu quả cải thiện tình trạng biếng ăn, kẽm huyết thanh và hemoglobin khi sử dụng hai sản phẩm dinh dưỡng: MTH.VC (chứa enzyme tiêu hóa, probiotic, kẽm, lysin, vitamin B1) và VC (chứa kẽm, lysin, vitamin B1); (3) Đánh giá sự thay đổi về cân nặng và tình trạng rối loạn tiêu hóa (vi khuẩn chí, loạn khuẩn, cặn dư phân) của việc bổ sung các sản phẩm này.
Luận án có những đóng góp mới đáng kể: là công trình đầu tiên tại Việt Nam đánh giá tình trạng biếng ăn ở trẻ 12-36 tháng tuổi có tiền sử nhiễm khuẩn và đã sử dụng kháng sinh, đồng thời xác định sử dụng kháng sinh là một trong những nguyên nhân hoặc yếu tố phối hợp gây biếng ăn. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học về hiệu quả của cả hai sản phẩm thử nghiệm (MTH.VC và VC) trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng, giảm nguy cơ suy dinh dưỡng nhẹ cân và thấp còi, cũng như tình trạng biếng ăn. Đặc biệt, đề tài chứng minh hiệu quả của can thiệp bằng sản phẩm chứa enzyme và probiotic (MTH.VC) đối với tình trạng thiếu máu, thiếu kẽm và vi khuẩn chí đường ruột ở trẻ biếng ăn sau sử dụng kháng sinh tốt hơn so với can thiệp vi chất đơn thuần.
Về phương pháp, nghiên cứu được thiết kế với hai giai đoạn: nghiên cứu cắt ngang mô tả và thử nghiệm can thiệp mù đôi tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh và huyện Yên Phong. Cỡ mẫu cho giai đoạn 1 là 366 trẻ và cho mỗi nhóm can thiệp là 76 trẻ. Sản phẩm can thiệp được sử dụng trong 21 ngày với liều 2 gói/ngày. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm nhân trắc, tình trạng biếng ăn, tiêu thụ thực phẩm, xét nghiệm máu (Hb, Zn) và xét nghiệm phân (vi khuẩn chí, cặn dư phân). Kết quả ban đầu từ Chương 3 cho thấy tỷ lệ biếng ăn chung ở trẻ sau sử dụng kháng sinh là 45,0%, với trẻ gái có xu hướng biếng ăn nhiều hơn trẻ trai. Các chỉ số nhân trắc (WAZ, HAZ, WHZ) của nhóm trẻ biếng ăn đều kém hơn một cách có ý nghĩa thống kê.