ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI SAU PHÚC MẠC TẠO HÌNH KHÚC NỐI NIỆU QUẢN - BỂ THẬN KIỂU CẮT RỜI
Ngoại Tiết Niệu
Luận án Tiến sĩ Y học này tập trung vào việc đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi sau phúc mạc tạo hình khúc nối niệu quản - bể thận kiểu cắt rời, một bệnh lý phổ biến trong niệu khoa. Mặc dù phẫu thuật nội soi tạo hình khúc nối đã được công nhận là tiêu chuẩn điều trị hiệu quả trên thế giới, đặc biệt là kỹ thuật cắt rời Anderson-Hynes, tại Việt Nam, các nghiên cứu quy mô lớn với thời gian theo dõi dài về phương pháp này, đặc biệt là qua đường sau phúc mạc, còn hạn chế.
Nghiên cứu được thực hiện trên 96 bệnh nhân hẹp khúc nối niệu quản - bể thận nguyên phát đã trải qua phẫu thuật nội soi sau phúc mạc tại khoa Niệu Bệnh viện Bình Dân từ tháng 5 năm 2006 đến tháng 12 năm 2011. Các bệnh nhân được chọn lọc dựa trên tiêu chuẩn có chỉ định phẫu thuật tạo hình, không có tiền căn phẫu thuật thận bệnh lý, có triệu chứng/biến chứng của thận ứ nước và tắc nghẽn khúc nối được xác nhận bằng cận lâm sàng. Phương pháp phẫu thuật chủ yếu là cắt rời Anderson-Hynes (83,3%) và cắt rời cải biên (16,7%).
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thành công chung của phẫu thuật đạt 92,7%. Cụ thể, đối với hẹp khúc nối do nguyên nhân nội tại, tỷ lệ thành công là 92,31%, với tai biến trong mổ nhẹ (tràn khí dưới da) và tỷ lệ biến chứng sau mổ thấp (4,62%). Trong các trường hợp hẹp khúc nối do mạch máu bất thường, tỷ lệ thành công là 93,55% và không ghi nhận biến chứng sau mổ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc cắt nhỏ bể thận giãn to không ảnh hưởng đáng kể đến kết quả phẫu thuật. Đối với trẻ em lớn (>10 tuổi), phẫu thuật đạt tỷ lệ thành công 93,75% mà không có biến chứng.
Các tai biến trong mổ chủ yếu là tràn khí dưới da nhẹ, không ảnh hưởng đến sức khỏe bệnh nhân. Biến chứng sau mổ thấp, chủ yếu là rò nước tiểu (3,1%). Thời gian nằm viện trung bình ngắn (5,7 ± 0,3 ngày) và tính thẩm mỹ cao với vết mổ nhỏ. Tuy nhiên, tỷ lệ sót sỏi cao (71,4%) trong trường hợp sỏi thận kết hợp cho thấy đây có thể là chống chỉ định tương đối với trang thiết bị hiện tại ở Việt Nam. Đối với thận móng ngựa, dù kết quả khả quan, hướng tiếp cận sau phúc mạc không thuận lợi, khuyến nghị nội soi trong phúc mạc.
Từ những kết quả trên, luận án kết luận phẫu thuật nội soi sau phúc mạc tạo hình khúc nối niệu quản - bể thận kiểu cắt rời là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị hẹp khúc nối NQ-BT tại Việt Nam, có thể áp dụng cho các nguyên nhân nội tại, có mạch máu bất thường, ở trẻ em lớn và bể thận giãn to. Luận án khuyến nghị phổ biến kỹ thuật này và trang bị thêm ống nội soi mềm tại các trung tâm lớn để nâng cao hiệu quả xử lý sỏi thận kết hợp.