Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế tập thể từ năm 2002 đến năm 2022
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Luận án "Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế tập thể từ năm 2002 đến năm 2022" tập trung nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự phát triển kinh tế tập thể trong giai đoạn này. Đề tài được lựa chọn dựa trên vị trí, vai trò quan trọng của kinh tế tập thể đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Phạm vi nghiên cứu bao gồm chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng về phát triển kinh tế tập thể từ năm 2002 đến năm 2022, tập trung vào các mặt như tuyên truyền, nâng cao nhận thức, và sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách.
Cấu trúc luận án gồm Mở đầu, 04 chương, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Chương 1 trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan, bao gồm các công trình nghiên cứu về kinh tế tập thể ở nước ngoài, đề cập đến lý luận, thực tiễn và giải pháp. Luận án ghi nhận sự đa dạng về cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu làm cơ sở cho việc lựa chọn hướng nghiên cứu phù hợp với ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tài liệu cũng chỉ ra rằng số lượng các tổ chức kinh tế tập thể thành lập mới tăng lên đáng kể, các hợp tác xã cũ từng bước được chuyển đổi theo mô hình kiểu mới. Kinh tế tập thể có sự phát triển đa dạng hơn về ngành, nghề, quy mô và trình độ. Tuy nhiên, lĩnh vực này vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, thể hiện qua tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng đóng góp vào GDP cả nước còn thấp. Chính sách hỗ trợ về khoa học - công nghệ và các quy định về ưu đãi tín dụng đã được ban hành, song việc tiếp cận vốn vay còn khó khăn đối với một số tổ chức do thiếu tài sản bảo đảm hoặc phương án sản xuất, kinh doanh.
Về nhận xét sự lãnh đạo của Đảng, luận án chỉ rõ ưu điểm là Đảng đã nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn vị trí, vai trò và yêu cầu khách quan phát triển kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những hạn chế như một số cấp ủy đảng, chính quyền chưa phát huy tốt trách nhiệm; năng lực cụ thể hóa, tổ chức thực hiện chủ trương còn hạn chế; công tác tổng kết lý luận và thực tiễn chưa kịp thời; và một số tổ chức kinh tế tập thể vẫn còn tâm lý ỷ lại, chậm thích ứng với cơ chế thị trường.