Đặc điểm lâm sàng thần kinh, hình ảnh tổn thương não và mối liên quan giữa lâm sàng với cận lâm sàng bệnh viêm não doToxoplasma gondii ở bệnh nhân HIV/AIDS
Thông tin này không được cung cấp trong văn bản được cung cấp.
Đại dịch HIV/AIDS là một vấn đề y tế xã hội toàn cầu, gây suy giảm miễn dịch nghiêm trọng, tạo điều kiện cho các bệnh nhiễm khuẩn cơ hội phát triển. Trong số đó, bệnh não do Toxoplasma gondii là một nhiễm khuẩn cơ hội thường gặp ở hệ thần kinh trung ương trên bệnh nhân HIV/AIDS, đặc biệt khi tế bào CD4 dưới 100 TB/µl. Bệnh lý này có khả năng điều trị khỏi nếu được phát hiện sớm và kịp thời, giúp hạn chế tỷ lệ tử vong và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu chuyên sâu về tổn thương não do Toxoplasma gondii trên bệnh nhân HIV/AIDS còn hạn chế.
Đề tài này được thực hiện nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng thần kinh, hình ảnh tổn thương não và xác định mối liên quan giữa các yếu tố lâm sàng với cận lâm sàng của bệnh viêm não do Toxoplasma gondii ở bệnh nhân HIV/AIDS. Nghiên cứu tập trung vào 66 bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 7 năm 2013.
Những đóng góp mới của luận án bao gồm việc phân tích chi tiết các biểu hiện lâm sàng như rối loạn ý thức, liệt nửa người, hội chứng màng não, cùng với đặc điểm hình ảnh tổn thương trên phim chụp CLVT và CHT sọ não. Các tổn thương thường đa ổ, kích thước dưới 20mm, rải rác khắp hai bán cầu, gây di lệch đường giữa và phù não mạnh (chủ yếu độ II). Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo giá trị, hỗ trợ thầy thuốc lâm sàng trong việc phát hiện và chẩn đoán bệnh nhanh chóng, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS có nhiễm trùng cơ hội.
Các kết luận chính chỉ ra rằng, các triệu chứng lâm sàng thần kinh thường gặp bao gồm liệt nửa người (51,5%), rối loạn ý thức (36,4%), hội chứng màng não (25,8%), liệt dây thần kinh sọ não (28,8%), rối loạn cơ vòng (18,2%) và co giật (4,5%). Về hình ảnh, 80,3% tổn thương là đa ổ, rải rác khắp hai bán cầu não, tập trung nhiều ở nhân xám (51,5%), thùy thái dương (48,5%), thùy trán (47,0%), thùy đỉnh (34,8%) và thùy chẩm (34,8%). Trung bình mỗi bệnh nhân có 4,23 ± 4,02 ổ tổn thương, và 100% bệnh nhân có phù não quanh ổ tổn thương, trong đó phù não độ II chiếm tỷ lệ cao nhất (84,8%).
Về mối liên quan, số lượng TCD4 giảm dưới 50 tế bào/mm³ có liên quan có ý nghĩa thống kê với triệu chứng sốt và có mối tương quan nghịch với số lượng ổ tổn thương cũng như kích thước ổ phù não. Số hội chứng thần kinh cũng có liên quan có ý nghĩa thống kê với số ổ tổn thương. Phù não mức độ II và III có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với triệu chứng sốt. Tuy nhiên, không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa mức độ phù não, số lượng ổ tổn thương, di lệch đường giữa với triệu chứng nhức đầu hay số lượng TCD4.
Luận án khuyến nghị nên thực hiện xét nghiệm miễn dịch phát hiện kháng thể kháng Toxoplasma gondii và chụp phim cộng hưởng từ sọ não cho bệnh nhân HIV/AIDS có dấu hiệu thần kinh khu trú để chẩn đoán và định hướng điều trị sớm.