ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM
Kinh tế
Luận án "Ảnh hưởng của các yếu tố và chất lượng quản trị công ty đến quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết ở Việt Nam" của Nguyễn Vân Trâm được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng. Nghiên cứu xuất phát từ thực trạng thông tin tài chính, đặc biệt là lợi nhuận, rất quan trọng đối với nhà đầu tư nhưng có thể bị quản trị lợi nhuận (QTLN) làm giảm chất lượng và niềm tin. Trong bối cảnh các công ty niêm yết (CTNY) Việt Nam có nhiều sai phạm trong công bố thông tin, việc xây dựng khung quản trị công ty (QTCT) hiệu quả là cần thiết để nâng cao tính minh bạch và chất lượng báo cáo tài chính.
Mục tiêu tổng quát của luận án là đánh giá ảnh hưởng của QTCT đến QTLN của các CTNY tại Việt Nam. Cụ thể, nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng QTCT, đo lường mức độ QTLN, và phân tích ảnh hưởng của các yếu tố QTCT cùng chỉ số chất lượng QTCT đến QTLN của các CTNY Việt Nam. Luận án tập trung vào các công ty phi tài chính niêm yết trên HNX và HOSE giai đoạn 2014-2020, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với kỹ thuật hồi quy đa biến và phần mềm Stata 14.2.
Về mặt lý thuyết, đây là nghiên cứu thực chứng tiên phong khi xem xét đồng thời ảnh hưởng của các yếu tố QTCT riêng lẻ và chỉ số chất lượng tổng hợp đến hành vi QTLN, kết hợp cả kỹ thuật QTLN dựa trên dồn tích và thông qua quyết định kinh tế, góp phần làm phong phú cơ sở lý thuyết. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo giá trị cho các cơ quan quản lý Nhà nước, Hiệp hội chuyên ngành kế toán kiểm toán, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo về chuyên ngành kế toán, đồng thời hỗ trợ các CTNY trong việc nhận diện các yếu tố QTCT và mô hình QTCT hiệu quả để giám sát hành vi nhà quản lý.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 08 yếu tố QTCT ảnh hưởng đến mức độ QTLN. Cụ thể, quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập, số cuộc họp HĐQT, chuyên môn tài chính của HĐQT, chuyên môn tài chính của ban kiểm soát, sở hữu quản lý, sở hữu nhà nước, sở hữu tổ chức có mối tương quan ngược chiều với QTLN (được đo lường bằng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh DA và tổng mức độ bất thường của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh REM). Đặc biệt, công ty có chất lượng QTCT cao sẽ góp phần hạn chế cả QTLN dựa trên lựa chọn chính sách kế toán và QTLN thông qua các nghiệp vụ kinh tế. Luận án cũng đưa ra các hàm ý quản trị quan trọng cho các công ty niêm yết và cơ quan quản lý.