info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Ảnh hưởng của sử dụng kết hợp thuốc bảo vệ thực vật hoạt chất Chlorpyrifos ethyl và Fenobucarb đến hoạt tính enzyme Cholinesterase cá lóc (Channa striata)

Năm2018
Lĩnh vựcCông nghệ kỹ thuật
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

ẢNH HƯỞNG CỦA SỬ DỤNG KẾT HỢP THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT HOẠT CHẤT CHLORPYRIFOS ETHYL VÀ FENOBUCARB ĐẾN HOẠT TÍNH ENZYM CHOLINESTERASE Ở CÁ LÓC (CHANNA STRIATA)

Ngành:

Chuyên ngành: Môi trường Đất và Nước

Mã ngành: 9 44 03 03

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tiến sĩ này tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng kết hợp thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) chứa hoạt chất Chlorpyrifos ethyl (nhóm Lân hữu cơ) và Fenobucarb (nhóm Carbamate) đến hoạt tính enzym Cholinesterase (ChE) ở cá lóc (Channa striata). Đề tài được thực hiện nhằm xác định mức độ nhạy cảm của ChE trong não cá lóc đối với các hoạt chất này khi phơi nhiễm riêng lẻ và phối trộn, đồng thời đánh giá khả năng áp dụng phương pháp đo ChE làm chỉ thị sinh học cảnh báo ô nhiễm BVTV trong môi trường nước.

Kết quả khảo sát tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cho thấy nông dân sử dụng phổ biến 232 tên thương mại thuốc BVTV với 65 hoạt chất khác nhau, với tần suất phun trung bình 6,0 lần/vụ. Đáng chú ý, đa số nông dân thường phối trộn nhiều loại thuốc trừ sâu và sử dụng liều lượng bằng hoặc cao hơn khuyến cáo trên nhãn.

Trong điều kiện phòng thí nghiệm, hoạt tính ChE ở cá lóc thể hiện sự nhạy cảm cao với cả Chlorpyrifos ethyl và Fenobucarb. Fenobucarb gây ức chế ChE nhanh chóng nhưng có khả năng phục hồi hoàn toàn sau 96 giờ. Ngược lại, Chlorpyrifos ethyl gây ức chế mạnh hơn và kéo dài, không phục hồi hoàn toàn sau 96 giờ. Khi sử dụng hỗn hợp hai hoạt chất, mức độ ức chế ChE không tăng hay giảm so với từng đơn chất, nhưng thời gian duy trì ức chế ở mức cao lại kéo dài hơn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng hơn cho cá. Khả năng phục hồi ChE trong nước sạch cũng chậm hơn khi cá phơi nhiễm với Chlorpyrifos ethyl hoặc hỗn hợp so với Fenobucarb đơn lẻ.

Nghiên cứu trên đồng ruộng xác nhận các mẫu ức chế và phục hồi ChE tương tự như trong phòng thí nghiệm. Ảnh hưởng của Fenobucarb có thể được phát hiện trong vòng 3 ngày sau phun, trong khi Chlorpyrifos ethyl hoặc hỗn hợp duy trì ảnh hưởng hơn 14 ngày. Phương pháp tái kích hoạt ChE bằng 2-PAM được chứng minh là hiệu quả cao đối với nhiễm bẩn thuốc BVTV gốc Lân hữu cơ, cung cấp công cụ hữu ích để quan trắc và cảnh báo. Luận án đề xuất không nên sử dụng kết hợp hai hoạt chất Chlorpyrifos ethyl và Fenobucarb, đồng thời khuyến nghị áp dụng kỹ thuật đo ChE bằng tái kích hoạt để quan trắc tác hại của nhiễm bẩn thuốc BVTV gốc Lân hữu cơ.

Mục lục chi tiết:

  • CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

    • 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu
    • 1.3 Nội dung nghiên cứu
    • 1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
    • 1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
    • 1.6 Điểm mới của luận án
  • CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
    • 2.2 Sinh vật và thuốc BVTV sử dụng cho thí nghiệm
    • 2.3 Phương pháp nghiên cứu
    • 2.4 Xử lý mẫu và phân tích ChE, tái kích hoạt
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

    • 3.1 Nội dung 1: Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV ở một số vùng canh tác lúa ở ĐBSCL
    • 3.2 Nội dung 2: Ảnh hưởng của phối trộn thuốc BVTV Chlorpyrifos ethyl và Fenobucarb đến ChE cá lóc trong điều kiện phòng thí nghiệm
    • 3.3 Nội dung 3: Ảnh hưởng của sử dụng phối trộn thuốc BVTV Chlorpyrifos ethyl và Fenobucarb cho lúa đến ChE ở cá Lóc
    • 3.4 Đề xuất khả năng áp dụng đo ChE để cảnh báo nhiễm bẩn thuốc BVTV
  • Chương 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

    • 4.1 Kết luận
    • 4.2 Đề xuất

Tài liệu liên quan