ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN HUYẾT SƠ SINH ĐỦ THÁNG TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG (2019-2021)
Bệnh truyền nhiễm và các bệnh nhiệt đới
Luận án này nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị nhiễm khuẩn huyết (NKH) ở trẻ sơ sinh đủ tháng tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2019-2021. NKH là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ sơ sinh, đồng thời việc chẩn đoán và điều trị còn nhiều thách thức. Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ 85 bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn.
Về đặc điểm lâm sàng, trẻ sơ sinh đủ tháng mắc NKH gặp ở cả nam và nữ với tỷ lệ tương đương (54,1% nam, 45,9% nữ). Các triệu chứng phổ biến bao gồm bú kém (89,4%), suy hô hấp (75,3%), sốt (51,8%), nhịp tim nhanh (51,8%) và sốc (29,4%). Về cận lâm sàng, tỷ lệ thiếu máu cao (72,9%), hạ tiểu cầu (49,6%) và CRP tăng cao (88,3%) được ghi nhận. Đặc biệt, các chỉ số miễn dịch mới như nCD64 và SI cho thấy giá trị chẩn đoán cao (AUC = 0,8, p < 0,01) trong NKH sơ sinh đủ tháng, trong khi mHLA-DR có giá trị thấp hơn.
Về tác nhân gây bệnh, vi khuẩn Gram âm chiếm tỷ lệ cao nhất (51,8%), tiếp theo là Gram dương (38,8%) và nấm (9,4%). S. aureus là căn nguyên phổ biến (28,2%), cùng với E. coli và K. pneumoniae (16,5%). Về độ nhạy cảm kháng sinh, vancomycin (100%), moxifloxacin (85,3%), ertapenem (81,3%) và meronem (78,6%) có tỷ lệ nhạy cao. Ngược lại, cefotaxim (80,0%), benzylpenicillin (80,0%), ceftazidim (56%) và Cefoperazone (50%) cho thấy tỷ lệ kháng cao. Các thuốc chống nấm vẫn nhạy với Candida.
Kết quả điều trị cho thấy tỷ lệ sống sót là 69,4%, với 1,1% có di chứng thần kinh. Tỷ lệ tử vong và nặng xin về là 30,6%. Thời gian điều trị trung bình là 23,1 ± 19,8 ngày. Tỷ lệ tử vong cao hơn ở nhóm nhiễm khuẩn khởi phát sớm (36,5%), nhiễm nấm (50%) và vi khuẩn Gram âm (38,2%). E. coli là vi khuẩn gây tử vong cao nhất. Các yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ tử vong bao gồm thở máy tuyến trước (OR=3,2), thở máy tại bệnh viện (OR=27,7), đặt catheter trung tâm (OR=21,1), sốc nhiễm khuẩn (OR=5,1), bạch cầu thấp (OR=4,8) và tiểu cầu thấp (OR=4,2). Nghiên cứu đề xuất cần kết hợp nhiều chỉ số để chẩn đoán sớm và chính xác, đồng thời xây dựng hướng dẫn điều trị và tăng cường các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn.