NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH TĂNG ACID URIC MÁU VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP CỘNG ĐỒNG Ở NGƯỜI TỪ 35 TUỔI TRỞ LÊN TẠI TỈNH CÀ MAU
Y tế công cộng
Luận án "NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH TĂNG ACID URIC MÁU VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP CỘNG ĐỒNG Ở NGƯỜI TỪ 35 TUỔI TRỞ LÊN TẠI TỈNH CÀ MAU" của Huỳnh Ngọc Linh, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, được thực hiện từ năm 2018 đến 2020. Nghiên cứu này nhằm xác định tỉ lệ tăng acid uric máu (AUM) và các yếu tố liên quan, đồng thời đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng ở người từ 35 tuổi trở lên tại tỉnh Cà Mau. Bối cảnh nghiên cứu là tỉ lệ tăng AUM ngày càng cao trên thế giới và Việt Nam, liên quan đến các thói quen sinh hoạt, dinh dưỡng không lành mạnh và các bệnh nền như tăng huyết áp, đái tháo đường, hội chứng chuyển hóa.
Nghiên cứu được tiến hành trên 2232 người dân, cho thấy tỉ lệ tăng AUM tại Cà Mau là 14,83%, trong đó nam giới có tỉ lệ cao hơn đáng kể (20,13%) so với nữ giới (9,7%). Các yếu tố làm tăng nguy cơ AUM bao gồm giới tính nam (OR=1,7), tăng huyết áp (OR=2,63), đái tháo đường típ 2 (OR=4,15), hội chứng chuyển hóa (OR=2,45), thói quen uống rượu (OR=4,37), ăn thịt đỏ (OR=1,62) và tăng creatinin máu (OR=3,31). Ngược lại, vận động thể lực (OR=0,42) và ăn rau xanh (OR=0,35) có tác dụng giảm nguy cơ.
Về can thiệp, nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả của truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) đơn thuần và TTGDSK kết hợp dùng vitamin C (250mg/ngày). Sau 12 tháng, cả hai biện pháp can thiệp đều cho thấy sự giảm nồng độ AUM có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng. Nhóm can thiệp kết hợp vitamin C có hiệu quả giảm nồng độ AUM tốt hơn nhóm TTGDSK đơn thuần (giảm trung bình 0,49mg/dl so với 0,44mg/dl, p=0,03). Tỉ lệ đạt kết quả chung ở nhóm TTGDSK đơn thuần là 24,39% và nhóm TTGDSK kết hợp vitamin C là 29,27%, đều cao hơn đáng kể so với 5,41% ở nhóm chứng. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây dựng các chiến lược can thiệp hiệu quả nhằm kiểm soát AUM trong cộng đồng, đặc biệt là việc sử dụng vitamin C như một biện pháp hỗ trợ tiềm năng.