NGHIÊN CỨU GIẢI PHẪU MẠCH MÁU VÀ THẦN KINH TUYẾN GIÁP TRÊN NGƯỜI VIỆT NAM TRƯỞNG THÀNH
Giải phẫu người
Luận án "Nghiên cứu giải phẫu mạch máu và thần kinh tuyến giáp trên người Việt Nam trưởng thành" được thực hiện nhằm cung cấp các dữ liệu giải phẫu chi tiết, hữu ích cho lâm sàng và giảng dạy. Lý do và tính cần thiết của nghiên cứu xuất phát từ thực tế bệnh bướu tuyến giáp phổ biến, và phẫu thuật cắt tuyến giáp thường gặp các tai biến như tổn thương thần kinh thanh quản và chảy máu. Việc nắm vững kiến thức giải phẫu mạch máu và thần kinh tuyến giáp là yếu tố then chốt để giảm thiểu các biến chứng này, đồng thời là nền tảng cho sự phát triển của các kỹ thuật phẫu thuật ít xâm lấn. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu nước ngoài ghi nhận sự khác biệt chủng tộc về giải phẫu, tài liệu và nghiên cứu chuyên sâu về mạch máu và thần kinh tuyến giáp trên người Việt Nam còn hạn chế.
Mục tiêu chính của nghiên cứu là mô tả các dạng, kích thước, và mối liên quan của mạch máu tuyến giáp, cũng như xác định các dạng, đường đi và liên quan của nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên và thần kinh thanh quản quặt ngược trên người Việt Nam.
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp cắt ngang mô tả trên 119 mẫu từ 60 xác người Việt Nam trưởng thành được ướp formol, tại Bộ môn Giải phẫu, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, từ tháng 09/2017 đến 10/2020. Tuổi trung bình của các xác là 70,69 ± 13,78 năm.
Kết quả nghiên cứu đã đưa ra các chỉ số giải phẫu quan trọng. Về mạch máu tuyến giáp, tất cả tuyến giáp đều được cấp máu bởi hai cặp động mạch giáp trên (ĐMGT) và động mạch giáp dưới (ĐMGD). Nguyên ủy ĐMGT rất đa dạng, trong đó nhiều nhất là từ động mạch cảnh ngoài. ĐMGT có đường kính trung bình 3,3mm và chiều dài trung bình 25,02mm. ĐMGD đều có nguyên ủy từ thân giáp cổ, với đường kính trung bình 2,72mm và chiều dài trung bình 24,23mm, trong đó chiều dài bên trái lớn hơn bên phải có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Động mạch giáp dưới cùng hiện diện trong khoảng 11,66% trường hợp, với nguyên ủy đa dạng và đường kính trung bình 2,01mm, chiều dài trung bình 19,83mm. Các tĩnh mạch tuyến giáp (TMGT, TMGG, TMGD) cũng có đặc điểm đa dạng về vị trí, số nhánh và nơi đổ về. TMGT xuất hiện trên tất cả các xác, liên quan với ĐMGT theo ba dạng chính (đi trước, đi sau, đi ngoài ĐM). TMGG xuất hiện 52,33% mẫu nghiên cứu và đổ trực tiếp về tĩnh mạch cảnh trong. TMGD có trên tất cả các mẫu, với ba dạng hình thái, trong đó dạng có nhiều nhánh nối chiếm ưu thế (48,33%).
Về thần kinh liên quan tuyến giáp, nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên (NNTKTQT) được tìm thấy ở tất cả các mẫu, có chiều dài trung bình 22,05mm. Mối liên quan của NNTKTQT với ĐMGT theo phân loại Cernea cho thấy dạng 2a (khoảng cách 0 – 10mm) chiếm tỉ lệ cao nhất (57,14%). Thần kinh thanh quản quặt ngược (TKTQQN) cũng hiện diện 100% ở tất cả các mẫu và đều tạo quai quặt ngược. Ở đoạn cổ dưới tuyến giáp, TKTQQN chủ yếu nằm trong rãnh khí quản-thực quản (73,11%). Ở đoạn mặt sau tuyến giáp, TKTQQN liên quan với ĐMGD rất đa dạng, phổ biến nhất là đi trước ĐM (42,02%) hoặc đi sau ĐM (39,5%). Đặc biệt, có một trường hợp nhánh TK đi xuyên qua nhu mô tuyến giáp ở bên cổ trái.
Những đóng góp mới của luận án là cung cấp các chỉ số giải phẫu quan trọng về mạch máu và thần kinh tuyến giáp trên người Việt Nam, chưa được mô tả đầy đủ trong các tài liệu giải phẫu học trong nước. Các chỉ số này có ý nghĩa lớn trong giảng dạy và ứng dụng lâm sàng, giúp nâng cao an toàn trong phẫu thuật cắt tuyến giáp.