NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA VỐN TRÍ TUỆ ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Kinh tế
Luận án tiến sĩ này tập trung nghiên cứu tác động của vốn trí tuệ (VTT) và công bố thông tin vốn trí tuệ (CBTT VTT) đến hiệu quả tài chính (HQTC) của các doanh nghiệp (DN) niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bối cảnh kinh tế tri thức và số hóa hiện nay đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý và nhận diện giá trị của VTT, vốn chưa được phản ánh đầy đủ trong sổ sách kế toán, đồng thời các nghiên cứu trước đây còn ghi nhận kết quả chưa nhất quán và còn hạn chế tại Việt Nam.
Mục tiêu chính của nghiên cứu là làm rõ tác động của mức độ CBTT VTT và hiệu quả VTT đến HQTC của DN niêm yết, cũng như xem xét vai trò trung gian của CBTT VTT trong mối quan hệ này. Phạm vi nghiên cứu bao gồm 308 DN niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2014-2019. Hiệu quả VTT được đo lường bằng mô hình VAIC điều chỉnh (bao gồm vốn nhân lực, vốn cấu trúc, vốn quan hệ), CBTT VTT được đánh giá qua chỉ số công bố thông tin, và HQTC được đo bằng ROA, ROE (kế toán) cùng M/B (thị trường). Phương pháp nghiên cứu định lượng, sử dụng ước lượng GMM hệ thống trên phần mềm Stata, được áp dụng để giải quyết vấn đề nội sinh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy CBTT VTT tổng thể có tác động thuận chiều đáng kể đến HQTC của DN. Hiệu quả VTT, đặc biệt là vốn đổi mới và vốn tổ chức, cũng có mối quan hệ tích cực và đáng kể với HQTC. Tuy nhiên, hiệu quả vốn nhân lực lại có tác động tiêu cực đến ROA, ROE và MB. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các DN tri thức cao tận dụng nguồn lực tri thức hiệu quả hơn. CBTT VTT không đóng vai trò trung gian nhưng là một biến điều tiết, và tác động của hoạt động đầu tư vào VTT cần thời gian ít nhất 2 năm để phát huy hiệu quả. Vốn vật chất không có tác động đáng kể đến giá trị thị trường, củng cố vai trò trung tâm của VTT.
Luận án đưa ra các hàm ý quản trị và chính sách cho DN, cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư nhằm nâng cao nhận thức và hiệu quả quản lý VTT tại Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra các hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo, bao gồm mở rộng phạm vi mẫu, xem xét chất lượng thông tin CBTT VTT và bổ sung các thành phần VTT mới.