info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và căn nguyên vi sinh trong đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có viêm phổi

Năm2024
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CẬN LÂM SÀNG VÀ CĂN NGUYÊN VI SINH TRONG ĐỢT CẤP CỦA BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH CÓ VIÊM PHỔI

Ngành:

Nội khoa/Nội hô hấp

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và căn nguyên vi sinh trong đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có viêm phổi" được thực hiện nhằm giải quyết những hạn chế trong chẩn đoán căn nguyên vi sinh ở bệnh nhân đợt cấp Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) có viêm phổi, một tình trạng bệnh lý có nguy cơ cao về suy hô hấp và tử vong. Trong khi nuôi cấy đờm truyền thống thường bỏ sót các căn nguyên không điển hình hoặc virus, phương pháp real-time PCR đa tác nhân đã cho thấy hiệu quả trên thế giới nhưng còn ít nghiên cứu kết hợp tại Việt Nam.

Nghiên cứu này đặt ra ba mục tiêu chính: mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh đợt cấp BPTNMT có viêm phổi cộng đồng; xác định đặc điểm căn nguyên vi sinh và tính nhạy cảm kháng sinh của vi khuẩn phân lập; và so sánh giá trị của real-time PCR đa tác nhân với nuôi cấy đờm trong phát hiện căn nguyên, đồng thời tìm mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng.

Nghiên cứu được tiến hành trên 138 bệnh nhân tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 12/2019 đến 09/2023, chia thành hai nhóm: có viêm phổi (nhóm I, n=92) và không có viêm phổi (nhóm II, n=46). Kết quả cho thấy, nhóm bệnh nhân có viêm phổi thường có biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng nặng hơn, với tỷ lệ sốt cao (57,61% so với 21,74% ở nhóm II), ho đờm xanh, ran nổ, và các chỉ số viêm như CRP, PCT đều tăng cao rõ rệt. CRP được xác định là chỉ dấu có giá trị trong chẩn đoán viêm phổi cộng đồng, với độ nhạy 56% và độ đặc hiệu 87% tại điểm cắt ≥ 40,8 mg/L.

Về căn nguyên vi sinh, nuôi cấy đờm dương tính ở 54,35% bệnh nhân nhóm I, trong đó K. pneumoniae (20,0%), M. catarrhalis (16,0%) và A. baumannii (14,0%) là các vi khuẩn gram âm phổ biến. Kháng sinh đồ cho thấy K. pneumoniae nhạy cảm tốt với Amikacin (87,50%), Fosfomycin (76,92%), nhóm Carbapenem và Gentamicin. M. catarrhalis nhạy cảm cao với Cloramphenicol (84,62%), Amoxicillin/Clavulanic acid (84,62%), Cefotaxime (71,43%) nhưng kháng Quinolon. Phương pháp real-time PCR đa tác nhân có tỷ lệ dương tính cao hơn (79,35% ở nhóm I), phát hiện K. pneumoniae (67,12%), H. influenzae (24,66%) và S. pneumoniae (21,92%) là chủ yếu, đồng thời phát hiện được cả vi khuẩn không điển hình và virus. Khi kết hợp cả hai phương pháp, tỷ lệ phát hiện căn nguyên vi sinh dương tính lên tới 92,39% ở nhóm I. Mối liên quan giữa căn nguyên và đặc điểm lâm sàng cho thấy H. influenzae thường gặp hơn ở bệnh nhân có suy hô hấp, S. pneumoniae phổ biến ở giai đoạn II BPTNMT, và A. baumannii liên quan đến viêm phổi nặng.

Luận án khuyến nghị cần lưu ý chẩn đoán viêm phổi ở bệnh nhân đợt cấp BPTNMT nhập viện do mức độ nặng của bệnh. Đồng thời, xét nghiệm real-time PCR đa tác nhân, đặc biệt khi phối hợp với nuôi cấy đờm, là phương pháp có giá trị trong chẩn đoán căn nguyên vi sinh. Cần tiếp tục nghiên cứu phát triển bộ sinh phẩm phù hợp hơn tại Việt Nam.

Tài liệu liên quan