info@luanan.net.vn
VIP Luận án DOC

Luận án Giá trị của nghiệm pháp nhận biết mùi trong chẩn đoán bệnh Parkinson tại Việt Nam

Năm2025
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

GIÁ TRỊ CỦA NGHIỆM PHÁP NHẬN BIẾT MÙI TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH PARKINSON TẠI VIỆT NAM

Ngành:

Nội khoa (Thần kinh)

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án nghiên cứu giá trị chẩn đoán của nghiệm pháp nhận biết mùi, đặc biệt là Nghiệm pháp nhận biết mùi Việt Nam (VSIT) và Brief Smell Identification Test (BSIT), trong việc phân biệt bệnh nhân Parkinson với nhóm chứng khỏe mạnh tại Việt Nam. Bệnh Parkinson, một bệnh thoái hóa thần kinh phổ biến, có việc chẩn đoán sớm còn thách thức, trong khi giảm mùi được xem là tiêu chuẩn hỗ trợ. Tuy nhiên, các nghiệm pháp mùi quốc tế hiện có chưa phù hợp hoàn toàn với người Việt Nam do sự khác biệt về mùi quen thuộc.

Nghiên cứu được thiết kế theo dạng bệnh chứng, tiến hành tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 5/2023 đến tháng 1/2024, với tổng cộng 218 bệnh nhân Parkinson và 218 nhóm chứng khỏe mạnh tương đồng về tuổi và giới. Mục tiêu chính là xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và âm của VSIT và BSIT, cũng như mối liên quan giữa khả năng nhận biết mùi và các đặc điểm lâm sàng của bệnh Parkinson.

Kết quả cho thấy, khi sử dụng điểm cắt < 8, VSIT đạt độ nhạy 84,4%, độ đặc hiệu 86,2%, giá trị tiên đoán dương 86,0%, và giá trị tiên đoán âm 84,7% (AUC 0,909, P < 0,0001). Ba mùi có năng lực cao nhất trong VSIT là chuối, xoài và ổi. BSIT với cùng điểm cắt cho độ nhạy 81,7%, độ đặc hiệu 69,3%, giá trị tiên đoán dương 72,7%, và giá trị tiên đoán âm 79,1% (AUC 0,818, P < 0,0001), với các mùi quế, thơm và xà phòng. VSIT được chứng minh có năng lực chẩn đoán cao hơn BSIT trên đối tượng người Việt Nam.

Về mối liên quan với đặc điểm bệnh Parkinson, điểm VSIT và BSIT có mối tương quan nghịch với tuổi và tuổi khởi phát bệnh, và tương quan thuận yếu với điểm MMSE. Tuy nhiên, không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với thời gian bệnh, giai đoạn Hoehn & Yahr, độ nặng của triệu chứng vận động (MDS-UPDRS phần III), kiểu hình vận động, hay liều levodopa tương đương hàng ngày.

Kết luận của luận án là cả VSIT và BSIT đều có giá trị trong chẩn đoán phân biệt bệnh nhân Parkinson với nhóm chứng, trong đó VSIT cho thấy hiệu quả vượt trội hơn cho người Việt Nam. Khuyến nghị sử dụng nghiệm pháp mùi VSIT trong sàng lọc ban đầu các trường hợp nghi ngờ Parkinson tại các phòng khám chuyên khoa Thần kinh tại Việt Nam và tiếp tục nghiên cứu để phát triển các phiên bản VSIT đặc hiệu hơn.

Tài liệu liên quan