info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu kết quả tạo nhịp tim vĩnh viễn tại vị trí bó nhánh trái

Năm2025
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ TẠO NHỊP TIM VĨNH VIỄN TẠI VỊ TRÍ BÓ NHÁNH TRÁI

Ngành:

Nội khoa/Nội Tim mạch

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả của phương pháp tạo nhịp tim vùng bó nhánh trái (TNVBNT) so với tạo nhịp thất phải truyền thống (TNVTP) ở bệnh nhân block nhĩ thất tại Việt Nam. Phương pháp tạo nhịp thất phải kinh điển, dù dễ thực hiện, đã được chứng minh có thể gây tái cấu trúc tâm thất, rung nhĩ, suy tim và tử vong về lâu dài. TNVBNT, một phương pháp mới hơn, hứa hẹn khắc phục những nhược điểm này bằng cách cải thiện khả năng cố định điện cực và ngưỡng tạo nhịp.

Nghiên cứu được tiến hành trên 104 bệnh nhân block nhĩ thất (cấp II hoặc III) có chỉ định cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn hai buồng. Các bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm: 52 bệnh nhân cấy TNVBNT và 52 bệnh nhân cấy TNVTP. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ban đầu giữa hai nhóm không có sự khác biệt đáng kể, ngoại trừ tỷ lệ đái tháo đường type 2 cao hơn ở nhóm TNVBNT.

Về kỹ thuật, thời gian thủ thuật, thời gian chiếu tia và thời gian cấy điện cực thất của nhóm TNVBNT đều dài hơn đáng kể so với nhóm TNVTP (trung bình 74,38 phút so với 51,65 phút, p < 0,001). Số lần phải đổi vị trí điện cực cũng cao hơn ở nhóm TNVBNT (trung vị 2 lần so với 1 lần, p = 0,004). Tỷ lệ thành công kỹ thuật của TNVBNT là 94,2% (49/52 ca), với 5,8% trường hợp tạo nhịp vách sâu. Trong khi đó, nhóm TNVTP đạt tỷ lệ thành công 100%. Về biến chứng, nhóm TNVBNT ghi nhận 3 trường hợp điện cực xuyên vách liên thất (5,76%) cần điều chỉnh vị trí. Sau 6 tháng theo dõi, không có trường hợp tử vong hay nhiễm trùng ở cả hai nhóm. Tuy nhiên, nhóm TNVTP ghi nhận 1 trường hợp suy tim tiến triển và 2 trường hợp rung nhĩ mới xuất hiện.

Đáng chú ý, TNVBNT cho thấy kết quả đồng bộ điện học và cơ học vượt trội sau 6 tháng. Thời gian phức bộ QRS trung bình ở nhóm TNVBNT ngắn hơn đáng kể (112,67 ± 13,47 ms) so với nhóm TNVTP (145,85 ± 9,49 ms, p < 0,001). Các chỉ số đánh giá đồng bộ cơ học như chênh lệch thời gian tiền tống máu giữa hai thất (IVMD), chênh lệch co bóp giữa vách liên thất và thành sau thất trái (SPWMD), sức căng thất trái toàn thể theo trục dọc (GLS) và chỉ số rối loạn đồng bộ tim trên siêu âm 3D (SDI) đều tốt hơn rõ rệt ở nhóm TNVBNT (p < 0,005). Các thông số điện cực như ngưỡng tạo nhịp và độ nhận cảm tương đương giữa hai nhóm, trong khi trở kháng điện cực của nhóm TNVBNT cao hơn có ý nghĩa thống kê.

Nghiên cứu kết luận rằng TNVBNT là một phương pháp tạo nhịp khả thi và an toàn cho bệnh nhân block nhĩ thất, mang lại kết quả đồng bộ điện học và cơ học tốt hơn đáng kể so với tạo nhịp thất phải truyền thống. Đề xuất xem xét lựa chọn TNVBNT và tiếp tục các nghiên cứu dài hạn hơn để đánh giá kết cục lâm sàng toàn diện.

Mục lục chi tiết:

  • Luận án gồm 136 trang (chưa kể phụ lục và tài liệu tham khảo):
  • Đặt vấn đề: 2 trang;
  • Tổng quan tài liệu: 36 trang;
  • Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 29 trang;
  • Kết quả nghiên cứu: 30 trang;
  • Bàn luận: 35 trang.
  • Hạn chế nghiên cứu: 1 trang;
  • Kết luận: 2 trang.
  • Kiến nghị: 1 trang.
  • Có 146 tài liệu tham khảo gồm 12 tài liệu tiếng Việt và 134 tài liệu tiếng Anh.

Tài liệu liên quan