Luận án nghiên cứu về chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH ở Việt Nam trong điều kiện của đổi mới, của đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, với tác động của xu thế hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức.
Thông tin về ngành của luận án không được cung cấp trực tiếp trong văn bản.
Luận án tập trung nghiên cứu chất lượng lao động của đội ngũ trí thức Giáo dục Đại học (GDĐH) tại Việt Nam trong bối cảnh thế kỷ XXI, khi kinh tế tri thức và cách mạng khoa học - công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, đặt con người và nguồn lực trí tuệ ở vị trí hàng đầu. Đề tài nhấn mạnh tầm quan trọng của GDĐH trong việc kiến tạo và phát triển tiềm lực trí tuệ quốc gia, đặc biệt khi Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đối mặt với nguy cơ tụt hậu về trí tuệ.
Phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn vào ba phương diện chủ yếu của chất lượng lao động: giảng dạy, nghiên cứu khoa học (NCKH) và quản lý giáo dục của đội ngũ trí thức GDĐH tại các trường đại học công lập Việt Nam. Luận án khảo sát thực trạng giai đoạn 2000 - 2013 và đề xuất giải pháp cho những năm tiếp theo. Cơ sở lý luận được xây dựng dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng.
Nội dung chính của tài liệu bao gồm: (1) Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến trí thức và chất lượng GDĐH ở Việt Nam, ghi nhận các công trình đã luận giải về vai trò, nhiệm vụ và tiềm năng của trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; (2) Xây dựng cơ sở lý luận về trí thức (là một tầng lớp xã hội đặc trưng bởi lao động trí óc, sáng tạo), trí thức GDĐH, và lao động của họ như một hoạt động nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo bậc cao, bao gồm dạy chữ, dạy người, dạy nghề. Chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH được định nghĩa là kết quả tổng hợp của hoạt động nghề nghiệp, thể hiện qua hiệu quả biến đổi trình độ, năng lực tư duy, phát triển nhân cách người học và đáp ứng yêu cầu của các chủ thể hưởng lợi; (3) Phân tích thực trạng chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam, chỉ ra những tiến bộ trong việc đáp ứng tiêu chuẩn nhưng cũng nêu bật các hạn chế như chất lượng giáo dục thấp, đào tạo phi chính quy yếu kém, chương trình lạc hậu, hiệu quả ứng dụng NCKH chưa cao (40% "trùm mền"), quản lý bất hợp lý. Mặc dù có mức độ hài lòng cao từ giảng viên và sinh viên (trên 70%), nhưng 60% doanh nghiệp không hài lòng về chất lượng nhân lực đào tạo. Luận án cũng đề cập đến tác động tiêu cực của cơ chế quản lý hành chính, mặt trái thị trường, tâm lý trọng bằng cấp và cơ chế tính lương theo thâm niên; (4) Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lao động, bao gồm việc thống nhất và nâng cao nhận thức xã hội về giá trị lao động của trí thức GDĐH, hoàn thiện chính sách đãi ngộ dựa trên năng lực và đóng góp thực tế thay vì thâm niên, và chuẩn hóa, hiện đại hóa phương thức đánh giá chất lượng lao động đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, đồng thời củng cố thái độ lao động tích cực, tự giác, tận tâm ở mỗi nhà giáo.