NGHIÊN CỨU CẤY GHÉP IMPLANT Ở BỆNH NHÂN ĐÃ CẤY GHÉP XƯƠNG HÀM SAU PHẪU THUẬT TẠO HÌNH KHE HỞ MÔI VÀ VÒM MIỆNG TOÀN BỘ
Răng Hàm Mặt (Mã số: 62.72.06.01)
Luận án này tập trung nghiên cứu cấy ghép implant ở bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật tạo hình khe hở môi và vòm miệng toàn bộ, đặc biệt là sau khi đã được cấy ghép xương hàm. Khe hở môi - vòm miệng (KHM - VM) là một dị tật bẩm sinh phổ biến, gây ra nhiều vấn đề về chức năng và thẩm mỹ. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào dịch tễ học và kỹ thuật đóng khe hở, trong khi việc cấy ghép implant trên vùng xương ghép ở khe hở huyệt răng vẫn chưa được nghiên cứu toàn diện. Nhu cầu điều trị cho đối tượng bệnh nhân này là rất lớn, do hầu hết chưa được phục hình răng đầy đủ.
Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá tình trạng xương hàm sau ghép xương khe hở huyệt răng và đánh giá kết quả cấy ghép implant. Đề tài hướng tới việc cung cấp một phương pháp điều trị mới, không chỉ phục hồi chức năng mà còn cải thiện thẩm mỹ, giúp bệnh nhân KHM-VM tự tin hơn trong giao tiếp và hòa nhập cộng đồng.
Nghiên cứu được thực hiện dưới dạng thử nghiệm lâm sàng tiến cứu không đối chứng trên 32 bệnh nhân từ 15 tuổi trở lên, có khe hở huyệt răng toàn bộ một bên và thiếu mầm răng vĩnh viễn trong vùng khe hở. Quy trình bao gồm phẫu thuật ghép xương khe hở huyệt răng bằng kỹ thuật ghép hai mảnh xương vỏ mào chậu tự thân, sau đó cấy ghép implant từ 4-6 tháng sau ghép xương, và phục hình răng 6 tháng sau cấy implant. Kết quả được theo dõi sau 15 và 18 tháng ghép xương. Các tiêu chí đánh giá bao gồm tình trạng mô mềm, lỗ rò miệng mũi, kết quả ghép xương trên phim X-quang quanh chóp (thang Enermark) và CT Cone Beam (kích thước 3 chiều), tích hợp xương của implant (tiêu chuẩn Misch 2008), thẩm mỹ phục hình (Belser 2009) và mức độ hài lòng của bệnh nhân.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, 7 ngày sau phẫu thuật ghép xương, 90,6% bệnh nhân có niêm mạc vùng nhận xương ghép tốt, và 100% đạt tình trạng tốt sau 4-6 tháng xử lý các trường hợp hở vết mổ. Tất cả các lỗ rò miệng mũi đều được đóng kín. Về phục hồi xương, 90,6% đạt cầu xương loại I theo thang Enermark ở thời điểm 4-6 tháng, và 90,6% trường hợp thành công (loại I và II) sau 18 tháng. Cấy ghép implant được ghi nhận giúp hạn chế tiêu xương. Kích thước xương ghép trung bình đạt 11,4±2,4mm theo chiều trên dưới và 6,1±1,0mm theo chiều ngoài trong, với 90,6% bệnh nhân đủ điều kiện cấy implant theo tiêu chuẩn Franck Renouard. Về kết quả cấy ghép implant, 100% implant thành công về tích hợp xương sau 12 và 15 tháng ghép xương, và 96,9% thành công sau 18 tháng, chỉ có 3,1% implant tồn tại không bệnh lý do tiêu xương nhẹ, không có trường hợp thất bại hoàn toàn.