info@luanan.net.vn
Luận án PDF

Luận án Đo Áp Lực Nội Sọ Trong Xuất Huyết Não Tự Phát

Năm2015
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

“Đo Áp Lực Nội Sọ Trong Xuất Huyết Não Tự Phát”

Ngành:

Ngoại Thần Kinh – Sọ Não

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án “Đo Áp Lực Nội Sọ Trong Xuất Huyết Não Tự Phát” đã nghiên cứu các đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và kết quả điều trị ở bệnh nhân xuất huyết não tự phát. Nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh nhân có độ tuổi trung bình là 54,2 tuổi, với tỷ lệ nam giới cao hơn nữ. Điểm GCS nhập viện trung bình là 8,3 điểm, trong đó phần lớn (72,6%) bệnh nhân có tình trạng nặng với GCS từ 5-8 điểm. Hình ảnh CT scan chủ yếu cho thấy máu tụ trong não (93,5%), với các vị trí xuất huyết thường gặp nhất là hạch nền, đồi thị (58,1%) và thùy não (51,6%). Thể tích ổ xuất huyết trung bình là 36,9ml, nằm trong vùng mà chỉ định phẫu thuật còn chưa thống nhất.

Về kết quả điều trị, luận án đã đánh giá hiệu quả của việc sử dụng phương pháp đo áp lực nội sọ (ALNS). Phương pháp đo ALNS bằng catheter sợi quang học trong nhu mô não được chứng minh là đơn giản và an toàn, không ghi nhận biến chứng nhiễm trùng hay chảy máu sau đặt, với chỉ 1,6% trường hợp gặp lỗi kỹ thuật. Nhờ theo dõi ALNS liên tục, 2/3 số bệnh nhân trong nghiên cứu được điều trị nội khoa bảo tồn. 1/3 bệnh nhân còn lại được điều trị phẫu thuật, chủ yếu là mở sọ cổ điển (73,9%). Đánh giá kết quả GOS ở tháng thứ 6 cho thấy tỷ lệ hồi phục tốt là 25,8%, tàn tật vừa là 40,3%, và tỷ lệ tử vong thấp chỉ 3,2%. Áp lực nội sọ thường đạt mức cao nhất trong khoảng 3 ngày đầu tiên, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân phẫu thuật (những bệnh nhân bị tăng ALNS kháng trị với điều trị nội). Luận án cũng chỉ ra mối tương quan thuận mức độ trung bình giữa ALNS trung bình và kết quả GOS, theo đó tiên lượng GOS càng xấu khi giá trị ALNS trung bình càng cao. Khi chỉ định và khung thời gian phẫu thuật còn mơ hồ, tăng ALNS được xem là một chỉ số khách quan quan trọng. Do đó, việc theo dõi ALNS liên tục hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng chủ động lựa chọn phương pháp điều trị (phẫu thuật hay nội khoa bảo tồn) và thời điểm can thiệp chính xác để giảm ALNS, góp phần cải thiện tỷ lệ biến chứng và tử vong.

Tài liệu liên quan