NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, MÔ BỆNH HỌC VÀ BƯỚC ĐẦU THEO DÕI ĐIỀU TRỊ BỆNH THẬN IGA
Nội thận - Tiết niệu
Bệnh thận IgA là một thể tổn thương cầu thận phổ biến trên thế giới, tiến triển âm thầm, gây suy giảm chức năng thận không hồi phục, với khoảng 1/3 bệnh nhân tiến triển đến bệnh thận giai đoạn cuối trong 10-20 năm. Triệu chứng lâm sàng thường kín đáo, không đặc hiệu, chủ yếu là đái máu vi thể hoặc đại thể, có thể kèm protein niệu. Chẩn đoán xác định dựa vào sinh thiết thận, thấy lắng đọng IgA ưu thế ở gian mạch cầu thận. Tại Việt Nam, mặc dù chẩn đoán đã có nhiều tiến bộ, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về bệnh thận IgA ở đối tượng người trưởng thành. Nghiên cứu này là công trình đầu tiên tại Việt Nam đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, mô bệnh học (MBH) và theo dõi điều trị bệnh thận IgA ở người trưởng thành.
Nghiên cứu đã khảo sát 186 bệnh nhân được chẩn đoán bệnh thận IgA tại Khoa Thận Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2013 đến 12/2016. Tỉ lệ bệnh thận IgA chiếm 36,90% trong số các bệnh cầu thận được sinh thiết, là tỉ lệ cao nhất. Đặc điểm lâm sàng nổi bật là tiểu máu đại thể hoặc vi thể. Về cận lâm sàng, protein niệu chủ yếu ở mức dưới ngưỡng thận hư, và có mối liên quan nghịch giữa mức lọc cầu thận (MLCT) với thời gian phát hiện tăng huyết áp (HA) và protein niệu. Về MBH, đặc điểm hay gặp nhất là xơ hóa cầu thận một phần, tiếp theo là tăng sinh gian mạch. Tỉ lệ cầu thận xơ hóa toàn bộ tỉ lệ thuận với thời gian tăng HA và huyết áp trung bình (HATB), tỉ lệ nghịch với MLCT.
Trong quản lý và điều trị, nghiên cứu ghi nhận một lượng lớn bệnh nhân bỏ điều trị sau 12 tháng (53,75%). Điều trị ức chế men chuyển/ức chế thụ thể angiotensin II (ƯCMC/UCTT) được chứng minh có hiệu quả đối với nhóm bệnh thận IgA có protein niệu < 1g/24h, cải thiện chức năng thận, tăng nồng độ protein máu và albumin máu, giảm protein niệu 24h có ý nghĩa thống kê. Tương tự, điều trị corticoid liệu trình 6 tháng cũng cho thấy hiệu quả cải thiện chức năng thận, tăng protein máu, albumin máu và giảm protein niệu 24h ở nhóm bệnh nhân có protein niệu ≥ 1g/24h, với tỉ lệ biến chứng thấp. Các kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của chẩn đoán sớm và sự cần thiết của các chiến lược tuyên truyền để nâng cao tuân thủ điều trị.