NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TẠO HÌNH DÂY CHẰNG CHÉO SAU QUA NỘI SOI KỸ THUẬT TẤT CẢ BÊN TRONG
Chấn thương chỉnh hình và tạo hình
Luận án tập trung vào nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nội soi tạo hình dây chằng chéo sau (DCCS) tất cả bên trong. Tổn thương DCCS dù ít gặp hơn dây chằng chéo trước (DCCT) nhưng đòi hỏi sự hiểu biết toàn diện về giải phẫu và cơ sinh học để điều trị hiệu quả. Phẫu thuật tạo hình DCCS được chỉ định cho các trường hợp tổn thương nặng hoặc kèm theo các cấu trúc khác, tuy nhiên đây là một phẫu thuật phức tạp với kết quả không luôn ngoạn mục. Kế thừa thành công từ phẫu thuật nội soi tạo hình DCCT, kỹ thuật tạo hình DCCS tất cả bên trong đã được ứng dụng lâm sàng.
Mục tiêu chính của nghiên cứu là tìm hiểu các chỉ số giải phẫu của DCCS ở người Việt trưởng thành để ứng dụng trong phẫu thuật nội soi tạo hình DCCS, và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi tạo hình DCCS sử dụng mảnh ghép gân hamstring tự thân kỹ thuật tất cả bên trong. Luận án nhấn mạnh tính cấp thiết do đây là một kỹ thuật mới, đòi hỏi phẫu thuật viên phải có kiến thức đầy đủ về giải phẫu DCCS và quy trình mổ, trong khi các nghiên cứu tại Việt Nam còn hạn chế.
Những đóng góp mới của luận án bao gồm việc cung cấp một công trình nghiên cứu giải phẫu DCCS tương đối đầy đủ cho người Việt, giới thiệu quy trình kỹ thuật mổ tạo hình DCCS tất cả bên trong bảo tồn các bó sợi nguyên thủy, và mở ra một hướng đi mới trong tạo hình DCCS làm tài liệu tham khảo.
Về cấu trúc, luận án gồm 133 trang, trình bày đặt vấn đề, tổng quan, đối tượng và phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, bàn luận, kết luận và kiến nghị. Nghiên cứu được tiến hành trên hai đối tượng: 21 khớp gối người Việt trưởng thành cho mục tiêu giải phẫu, và 42 bệnh nhân tổn thương DCCS được phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Việt Đức cho mục tiêu lâm sàng. Phần giải phẫu tập trung vào đo các chỉ số như chiều dài, diện tích mặt cắt ngang, diện bám, và tâm các bó BTN, BST. Phần lâm sàng đánh giá đặc điểm bệnh nhân, các nghiệm pháp lâm sàng, thang điểm chức năng (Lysholm, IKDC 2000), và di lệch chày đùi bằng thước KT 2000 trước và sau mổ, với thời gian theo dõi tối thiểu 12 tháng. Kết quả ban đầu từ nghiên cứu giải phẫu đã được trình bày.
Luận án có 46 bảng, 16 biểu đồ, 60 hình và 127 tài liệu tham khảo (gồm tiếng Việt và tiếng Anh).