Nghiên cứu ứng dụng đường mổ nội soi qua xoang bướm trong phẫu thuật u tuyến yên
Tai Mũi Họng
Luận án "Nghiên cứu ứng dụng đường mổ nội soi qua xoang bướm trong phẫu thuật u tuyến yên" được thực hiện nhằm giải quyết những thách thức trong điều trị u tuyến yên, một loại u nội sọ chiếm 10-15%, thường gây rối loạn nội tiết, suy tuyến yên và chèn ép cấu trúc lân cận. Trong khi phẫu thuật là phương pháp điều trị hiệu quả, các kỹ thuật truyền thống như mở nắp sọ hoặc mổ qua xoang bướm bằng kính hiển vi còn nhiều hạn chế về biến chứng và khả năng lấy u. Đường mổ nội soi qua xoang bướm, được áp dụng từ năm 1992, đã mang lại nhiều ưu điểm như tăng khả năng lấy u, hạn chế biến chứng và rút ngắn thời gian phẫu thuật. Tuy nhiên, đường mổ này vẫn đối mặt với khó khăn do sự biến thể giải phẫu của xoang bướm và các cấu trúc quan trọng lân cận như động mạch cảnh trong và thần kinh thị giác, đặc biệt khi u xâm lấn.
Nghiên cứu này tập trung vào việc mô tả hình thái giải phẫu mũi - xoang bướm ở bệnh nhân u tuyến yên qua nội soi và cắt lớp vi tính, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của đường mổ nội soi qua xoang bướm đến chức năng mũi xoang. Từ đó, luận án đưa ra các khuyến cáo nhằm hạn chế biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Những đóng góp mới bao gồm việc mô tả chi tiết hình thái giải phẫu, áp dụng bộ test khứu giác để đánh giá chức năng mũi xoang và đưa ra các khuyến cáo thực hành.
Được thực hiện trên 84 bệnh nhân tại Bệnh viện Việt Đức từ 2011-2014, nghiên cứu cho thấy u tuyến yên thường gặp ở lứa tuổi 41-60, với các triệu chứng chủ yếu do chèn ép và rối loạn thị giác. Kết quả chụp CLVT chỉ ra 86,91% xoang bướm loại dưới và sau yên, với nhiều biến thể vách ngăn. Động mạch cảnh trong lồi vào xoang bướm ở 23,81% bệnh nhân, và 38,10% khối u xâm lấn giao thoa thị giác. Phần lớn u có kích thước lớn (>30mm chiếm 66,67%) và gây giãn rộng hố yên (85,71%). Phẫu thuật nội soi hai bên hốc mũi, với thời gian trung bình 106 phút, đạt hiệu quả lấy u cao (59,62% không còn u). Các biến chứng phẫu thuật bao gồm chảy dịch não tủy (11,90%), chảy máu mũi (10,71%), đái tháo nhạt (7,14%) và viêm màng não (2,38%). Sau 3 tháng, chức năng thở và ngửi có sự phục hồi đáng kể, với tỷ lệ giảm ngửi là 7,14% và viêm mũi xoang 5,95%.