NGHIÊN CỨU SỰ THAY ĐỔI HÀM LƯỢNG MALONDIALDEHYDE Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐẠI TRÀNG TRƯỚC VÀ SAU PHẪU THUẬT TRIỆT CĂN
Ngoại tiêu hóa
Luận án "Nghiên cứu sự thay đổi hàm lượng Malondialdehyde ở bệnh nhân ung thư đại tràng trước và sau phẫu thuật triệt căn" tập trung vào vai trò của stress oxy hóa trong ung thư đại tràng (UTĐT), đặc biệt là sự thay đổi của chỉ số Malondialdehyde (MDA) - một sản phẩm của quá trình oxy hóa lipid - trước và sau phẫu thuật. Đặt vấn đề nhấn mạnh rằng stress oxy hóa và các gốc tự do có liên quan đến sự phát triển, tái phát và di căn của UTĐT, đồng thời quá trình phẫu thuật cũng là một tác nhân gây stress oxy hóa. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về sự thay đổi MDA sau phẫu thuật triệt căn UTĐT còn hạn chế.
Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định hàm lượng MDA ở bệnh nhân UTĐT được điều trị phẫu thuật triệt căn và đánh giá sự thay đổi hàm lượng MDA hồng cầu của các bệnh nhân này sau phẫu thuật.
Luận án được cấu trúc thành 6 phần chính: đặt vấn đề, tổng quan, đối tượng và phương pháp nghiên cứu, kết quả, bàn luận và kết luận, với tổng cộng 124 trang, 56 bảng, 11 hình, 11 biểu đồ, 1 sơ đồ và 173 tài liệu tham khảo (trong đó 11 tài liệu tiếng Việt và 162 tài liệu tiếng Anh).
Về phương pháp, nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang không đối chứng, so sánh trước sau, được thực hiện trên 74 bệnh nhân UTĐT tại khoa Phẫu thuật bụng - Bệnh viện Quân Y 103 từ tháng 3/2015 đến tháng 1/2017. Trong đó, 60 bệnh nhân đủ điều kiện xét nghiệm MDA hồng cầu. Các tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm UTĐT giai đoạn I, II, III, ung thư biểu mô tuyến, phẫu thuật triệt căn. Tiêu chuẩn loại trừ các trường hợp tái phát, đã điều trị hóa/xạ, phẫu thuật cấp cứu hoặc có bệnh lý toàn thân. Hàm lượng MDA được xác định bằng phương pháp TBA test trên mẫu mô khối u, mô lành đại tràng và hồng cầu máu ngoại vi ở 4 thời điểm (trước mổ, sau mổ 1, 3, 7 ngày). Các phân tích thống kê được thực hiện bằng phần mềm SPSS 20.0.
Kết quả ban đầu cho thấy nhóm nghiên cứu có tuổi trung bình khoảng 59,8, tỉ lệ nam/nữ là 1,31/1, và hơn một nửa có tình trạng thiếu máu trước mổ. UTĐT trái chiếm ưu thế, với ung thư đại tràng sigma là phổ biến nhất. Giai đoạn bệnh II và III chiếm đa số. Phẫu thuật triệt căn được thực hiện bằng cả nội soi và mổ mở. Tỷ lệ biến chứng sau mổ thấp (5,4%), không có tai biến trong mổ đáng kể, và chỉ 1 trường hợp tử vong. Các chỉ số về thời gian trung tiện, số ngày sốt và thời gian nằm viện sau mổ đều được ghi nhận.