info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của alen CYP2C19*2, CYP2C19*3 và một số yếu tố liên quan tới tính đáp ứng của clopidogrel ở bệnh nhân nhồi máu não

Năm2020
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

Không được cung cấp rõ ràng trong văn bản.

Ngành:

Không được cung cấp rõ ràng trong văn bản.

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Tài liệu trình bày về tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu liên quan đến nhồi máu não (NMN) do hẹp tắc động mạch nuôi, trong đó huyết khối động mạch và tiểu cầu đóng vai trò trung tâm. Clopidogrel là thuốc chống ngưng tập tiểu cầu được Tổ chức Đột quỵ Thế giới khuyến nghị để dự phòng huyết khối ở bệnh nhân NMN. Tuy nhiên, tình trạng kháng clopidogrel khiến nhiều bệnh nhân vẫn tái phát NMN khi đang điều trị. Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính đáp ứng của clopidogrel, gây ra tình trạng kháng thuốc.

Mục tiêu của đề tài là xác định một số yếu tố ngoài gen CYP2C19 liên quan đến tính đáp ứng của clopidogrel, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của các alen CYP2C19*2 và CYP2C19*3 tới tính đáp ứng này ở bệnh nhân NMN. Đề tài cung cấp thông tin về tỷ lệ kháng clopidogrel, tỷ lệ các alen CYP2C19*2, CYP2C19*3 và ảnh hưởng của chúng. Bệnh sinh NMN được giải thích là do tắc nghẽn động mạch não gây giảm lưu lượng máu, với huyết khối động mạch là nguyên nhân thường gặp nhất, trải qua hai giai đoạn tạo huyết khối.

Các yếu tố ngoài gen CYP2C19 được đề cập bao gồm tuổi cao (làm suy giảm hoạt động enzym CYP và tăng bệnh đồng diễn), giới nữ (tăng khả năng phản ứng tiểu cầu do hormone), và béo phì. Nghiên cứu trên thế giới về đáp ứng clopidogrel đã được thực hiện từ năm 2003, mở rộng sang bệnh nhân NMN từ năm 2009, đều ghi nhận các alen CYP2C19 giảm chức năng làm giảm đáp ứng của thuốc.

Tài liệu cũng liệt kê các tiêu chí loại trừ bệnh nhân khỏi nghiên cứu, bao gồm dị ứng clopidogrel, sử dụng thuốc chống đông/chống ngưng tập tiểu cầu khác, điều trị tiêu huyết khối, can thiệp động mạch cảnh, rối loạn nước/điện giải nặng, rối loạn ý thức, vùng nhồi máu lớn, chuyển dạng chảy máu, bất thường về hemoglobin/tiểu cầu, rối loạn đông cầm máu, và các bệnh nền nghiêm trọng như nhồi máu cơ tim, rung nhĩ, suy tim độ 3/4, viêm gan, xơ gan, ung thư.

Một số kết quả được trình bày bao gồm tỷ lệ kháng clopidogrel là 34,68%. Độ ngưng tập tiểu cầu ở nhóm bệnh nhân ≥ 60 tuổi cao hơn nhóm < 60 tuổi (43,50% so với 36,14%, p < 0,05). Tỷ lệ kháng clopidogrel tăng dần theo mức độ tăng của các nhóm BMI (p < 0,05). Đái tháo đường (ĐTĐ) làm tăng nguy cơ kháng clopidogrel (OR = 2,03, p < 0,05), với tỷ lệ ĐTĐ ở nhóm kháng cao hơn (43,02% so với 27,16%). Albumin huyết thanh ở nhóm kháng thấp hơn (p < 0,05), trong khi trung vị CRP cao hơn (p < 0,05), với CRP huyết thanh ≥ 4,67 mg/l là nguy cơ gây kháng clopidogrel. Tỷ lệ kháng clopidogrel ở nhóm có vữa xơ động mạch cảnh cao hơn so với nhóm không vữa xơ (OR = 2,042, p < 0,05). Sử dụng insulin làm tăng nguy cơ kháng clopidogrel (OR = 3,59, p < 0,05).

Mục lục chi tiết:

Không có phần mục lục chi tiết được cung cấp rõ ràng trong văn bản.

Tài liệu liên quan