info@luanan.net.vn
Luận án DOC

Luận án Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị sóng xung kích ở bệnh nhân thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính

Năm2023
Lĩnh vựcY tế - Sức khoẻ
Ngôn ngữTiếng Việt, Tiếng Anh

Mô tả tài liệu

Tên luận án:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SÓNG XUNG KÍCH Ở BỆNH NHÂN THIẾU MÁU CƠ TIM CỤC BỘ MẠN TÍNH

Ngành:

Nội khoa/Nội Tim mạch

Tóm tắt nội dung tài liệu:

Luận án tiến sĩ y học này tập trung nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị sóng xung kích (CSWT) ở bệnh nhân thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính (TMCTCBMT), còn gọi là hội chứng vành mạn (HCVM) có đau thắt ngực kháng trị. Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về ứng dụng phương pháp CSWT trong điều trị tình trạng này. Nghiên cứu khẳng định tính an toàn của CSWT trong điều kiện Việt Nam, không ghi nhận tổn thương chức năng gan, thận, men tim, cơ quan tạo máu hay các rối loạn nhịp phức tạp. Đồng thời, CSWT cho thấy hiệu quả trong việc cải thiện triệu chứng đau thắt ngực, nghiệm pháp đi bộ 6 phút, chỉ số NT-proBNP, phân suất tống máu (EF Simpsons) và mức độ/diện khuyết xạ trên SPECT sau 6 tháng điều trị.

Nghiên cứu được thực hiện trên 65 bệnh nhân HCVM có đau thắt ngực kháng trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, theo thiết kế tiến cứu, mô tả cắt ngang, so sánh trước và sau điều trị, với thời gian theo dõi 6 tháng. Nhóm bệnh nhân có tuổi trung bình 72,2 ± 10,1, chủ yếu là nam giới (78,5%), với các yếu tố nguy cơ tim mạch phổ biến như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, tuổi cao, hút thuốc lá, béo phì, và đái tháo đường. Đa số bệnh nhân có mức độ đau thắt ngực nặng (CCS 3 chiếm 58,5%, CCS 4 chiếm 16,9%) và suy tim NYHA độ I-III.

Kết quả cho thấy sự cải thiện đáng kể sau 6 tháng điều trị CSWT: số lần và thời gian cơn đau thắt ngực giảm hơn 90% so với trước điều trị (từ 6,26 ± 2,59 lần/tuần xuống 0,58 ± 0,56 lần/tuần và từ 564,9 ± 317,3 giây/tuần xuống 15,2 ± 15,3 giây/tuần), lượng Nitrat sử dụng cũng giảm mạnh (từ 6,34 ± 2,62 lần/tuần xuống 0,60 ± 0,55 lần/tuần). Phân độ chức năng tim mạch theo CCS và NYHA đều cải thiện rõ rệt, đặc biệt không còn trường hợp CCS 3, 4 và NYHA IV sau 6 tháng. Nghiệm pháp đi bộ 6 phút tăng từ 280,8 ± 71,1m lên 388,6 ± 55,4m. Về cận lâm sàng, chỉ số NT-proBNP giảm có ý nghĩa sau 6 tháng (từ 942,75 ± 1618,37 pg/ml xuống 410,45 ± 461,54 pg/ml), EF (Simpsons) tăng từ 43,89 ± 12,27% lên 48,48 ± 10,57%, cùng với sự cải thiện các chỉ số WMSI, GLS và điểm khuyết xạ cơ tim (SSS, SRS, SDS) trên xạ hình tưới máu cơ tim SPECT. Khoảng 9,2% bệnh nhân không cải thiện, và các chỉ số SSS ≥ 13, SRS ≥ 11 có giá trị tiên lượng tình trạng này.

Luận án kiến nghị áp dụng điều trị bằng sóng xung kích như một phương pháp bổ sung không xâm lấn, hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân HCVM có đau thắt ngực kháng trị không phù hợp hoặc vẫn còn triệu chứng sau tái thông mạch vành.

Mục lục chi tiết:

  • Đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu (2 trang)
  • Tổng quan (37 trang)
  • Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (23 trang)
  • Kết quả nghiên cứu (29 trang)
  • Bàn luận (37 trang)
  • Kết luận (2 trang)
  • Kiến nghị (1 trang)

Tài liệu liên quan