Đăng nhập để tải tài liệu không giới hạn
Tham gia 8.000+ người dùng Thư Viện Luận Án
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DI TRUYỀN, SINH HỌC VÀ SINH THÁI HỌC CỦA CÁ BỐNG Glossogobius aureus VÀ Glossogobius sparsipapillus PHÂN BỐ MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Công nghệ sinh học (Mã ngành: 94 20 201)
Luận án này tập trung nghiên cứu đặc điểm di truyền, sinh học và sinh thái học của hai loài cá bống Glossogobius aureus và Glossogobius sparsipapillus phân bố tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản suy giảm do khai thác quá mức và biến đổi khí hậu, việc thiếu dữ liệu toàn diện về các loài này đã đặt ra nhu cầu nghiên cứu cấp thiết.
Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá đa dạng di truyền, cung cấp dữ liệu về đặc điểm sinh học và sinh thái học của hai loài cá bống G. aureus và G. sparsipapillus tại khu vực nghiên cứu, từ đó đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác bền vững. Các mục tiêu cụ thể bao gồm xác định chỉ thị phân tử DNA ở ty thể (vùng gen COI và Cytb) để đánh giá đa dạng di truyền và phân loại học, nghiên cứu các chỉ số hình thái, đặc điểm sinh học tăng trưởng, mối quan hệ giữa đá tai và kích cỡ cá, sinh thái học dinh dưỡng và cấu trúc quần thể.
Điểm mới của luận án là xác định được chỉ thị phân tử DNA trong ty thể của giống Glossogobius, bổ sung các trình tự gen COI và Cytb của G. sparsipapillus vào Ngân hàng gen NCBI. Nghiên cứu cũng cung cấp dữ liệu về hình thức tăng trưởng, hệ số điều kiện, mối quan hệ giữa đá tai và kích cỡ cá, tính ăn, phổ thức ăn, cường độ bắt mồi, cũng như hiện trạng khai thác của hai loài cá này, với sự biến động theo giới tính, mùa và kích cỡ.
Kết quả cho thấy ba loài G. aureus, G. giuris và G. sparsipapillus có kích thước vùng gen COI khoảng 650 bp và vùng gen Cytb khoảng 1.000 bp, với trình tự vùng gen Cytb đóng vai trò rõ ràng trong việc phân biệt loài. Cả hai loài G. aureus và G. sparsipapillus đều có kiểu tăng trưởng bất đẳng ưu thế chiều dài và thích nghi tốt với môi trường sống (hệ số điều kiện > 1). Khối lượng đá tai của chúng có mối tương quan thuận với chiều dài, khối lượng, chiều cao cơ thể và chiều dài đầu cá, giúp ước lượng sự tăng trưởng.
Về dinh dưỡng, cả hai loài đều thuộc nhóm cá ăn động vật (hệ số sinh trắc ruột < 1), với tép, cá nhỏ và các thức ăn khác là chủ yếu. Hệ số béo Clark của G. aureus biến động theo mùa, trong khi của G. sparsipapillus chịu ảnh hưởng bởi tương tác mùa vụ và điểm thu mẫu. Tỷ lệ giới tính đực:cái của cả hai quần thể xấp xỉ 1:1. Mặc dù có tuổi thọ tối đa khá cao, phân tích cho thấy cả hai quần thể đang có xu thế bị khai thác quá mức và tỷ lệ chết do khai thác cao.
Từ những kết quả này, luận án đề xuất tiếp tục phân tích thêm các gen trong nhân để định loại và đánh giá mối quan hệ di truyền, phân tích đồng vị bền trong cơ cá và thức ăn để làm cơ sở cho nuôi nhân tạo, và khuyến nghị chiều dài khai thác cho phép lớn hơn chiều dài đánh bắt đầu tiên (>10,1 cm cho G. aureus và >7,3 cm cho G. sparsipapillus) nhằm đảm bảo khai thác bền vững.
Tải không giới hạn tất cả tài liệu, không cần chờ. Chỉ từ 199.000đ/tháng.
Xem gói hội viên