Ảnh hưởng của tố chất cá nhân nhà lãnh đạo tới kết quả lãnh đạo doanh nghiệp ở Việt Nam
Quản trị kinh doanh
Luận án này tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của tố chất cá nhân nhà lãnh đạo tới kết quả lãnh đạo doanh nghiệp tại Việt Nam, một vấn đề còn hạn chế trong các nghiên cứu trước đây. Mục tiêu chính là làm rõ mối quan hệ này, xác định các tố chất cá nhân phổ biến của nhà lãnh đạo Việt Nam, và phân tích các yếu tố doanh nghiệp (ngành nghề, sở hữu, quy mô) cũng như đặc điểm nhà lãnh đạo (tuổi, giới tính) tác động đến ảnh hưởng của tố chất cá nhân.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, bao gồm phân tích tổng hợp tài liệu, phỏng vấn chuyên gia (định tính) và điều tra bảng hỏi (định lượng). Đối tượng nghiên cứu là tố chất cá nhân của nhà lãnh đạo và tác động của chúng đến kết quả lãnh đạo, được đánh giá bởi nhân viên và các nhà lãnh đạo cấp trung. Phạm vi khảo sát bao gồm 806 phiếu hợp lệ từ các doanh nghiệp Nhà nước, tư nhân, và nước ngoài thuộc 7 vùng kinh tế trên toàn quốc, thực hiện từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2014.
Kết quả nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tố chất cá nhân nhà lãnh đạo, áp dụng các thang đo quốc tế (Peterson và Seligman, Judge, Piccolo, Kosalka) để phân loại tố chất tích cực (Sự hiểu biết, Lòng can đảm, Tính nhân bản, Sự vượt trội, Sự kiềm chế, Sự công bằng) và tiêu cực (Tự cao tự đại, Ngạo mạn, Tư tưởng thống trị, Thủ đoạn xảo quyệt). Luận án bổ sung ba tố chất cá nhân điển hình của người Việt Nam: Cảm tính, Chủ động – Khả năng xoay chuyển, và Tư duy quân bình. Các kết quả lãnh đạo được đánh giá qua năm nhóm chỉ tiêu: Sự thỏa mãn của nhân viên, cam kết gắn bó với tổ chức, sức khỏe tâm lý, năng lực tổ chức hoạt động, và tư tưởng sẵn sàng đổi mới. Mô hình nghiên cứu đã được điều chỉnh và kiểm định thành công với 6 nhóm tố chất cá nhân và 2 nhóm kết quả lãnh đạo (kết quả lãnh đạo nhân viên và kết quả lãnh đạo chung).
Phân tích cho thấy ba nhóm tố chất (Tính nhân bản – Sự công bằng, Kỷ luật – Cầu toàn, Ham hiểu biết – Ham học hỏi) có ảnh hưởng tích cực đến cả kết quả lãnh đạo nhân viên và chung, trong đó "Tính nhân bản – Sự công bằng" có tác động mạnh mẽ nhất. Nhóm "Tự cao tự đại – Ngạo mạn – Tư tưởng thống trị" có ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả lãnh đạo nhân viên. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt đáng kể về kết quả lãnh đạo và ảnh hưởng của tố chất cá nhân giữa các doanh nghiệp có sở hữu vốn khác nhau và giữa các nhóm giới tính, tuy nhiên không có sự khác biệt đáng kể theo nhóm tuổi. Cụ thể, lãnh đạo nam giới có kết quả lãnh đạo chung cao hơn nữ giới, và ảnh hưởng của một số tố chất cũng khác biệt giữa nam và nữ. Doanh nghiệp Nhà nước có kết quả lãnh đạo nhân viên cao hơn nhưng kết quả lãnh đạo chung lại thấp hơn so với doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài.
Những đóng góp khoa học của luận án bao gồm việc làm rõ và chuẩn hóa thuật ngữ, chuyển đổi thang đo quốc tế phù hợp với Việt Nam, đề xuất biến nghiên cứu mới, và xác định sự đồng nhất của hai nhóm kết quả lãnh đạo. Về thực tiễn, nghiên cứu cung cấp căn cứ để đưa ra khuyến nghị bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ doanh nhân và phát triển quan điểm lãnh đạo trong doanh nghiệp. Hạn chế của nghiên cứu là mẫu chọn thuận tiện và việc chuyển đổi thuật ngữ.